Tôi không đáp. Cô bé cúi đầu kéo hành lý, vai phải hơi lệch đi một chút rồi lại chỉnh lại cho ngay ngắn. "Đi thôi, về khu tập thể trước đã."
Trên đường đi, Tri Ý kể cho tôi nghe, năm đó cô bé trèo ra cửa sổ sân thượng là vì chiếc áo khoác đồng phục bị rơi ra ngoài mép sàn, đó là chiếc áo mẹ cô bé phải làm việc cả tháng trời mới m/ua nổi.
Cô bé hoảng lo/ạn trèo ra nhặt, chân trượt một cái liền rơi xuống.
Thính Tuyết từ cuối hành lang lao ra, với được vạt áo của cô bé rồi đẩy một cái, còn bản thân chị ấy thì rơi xuống bệ tầng sáu.
"Mình nằm viện hai tháng. Lúc xuất viện thì chị ấy đã không còn nữa, mình thậm chí còn không được nhìn mặt chị lần cuối."
Về đến phòng trọ, cô bé lôi từ trong cặp ra một cuốn nhật ký cũ, trong lớp kẹp là một mẩu giấy gấp đôi.
"Chị ấy tự tay nhét cho mình, đúng vào khoảng thời gian đó. Chị ấy nói nhờ mình giữ cái này, sau này em gái đến thì đưa cho em ấy."
Tôi mở mẩu giấy ra. Là nét chữ của Thính Tuyết, nét bút đã rất vững vàng: "Nếu em gái mình đến, cậu giúp mình nói với em ấy, chị vẫn luôn đợi em. Mình đã tích được rất nhiều kẹo trong lọ thủy tinh, đặt ở ngăn trên cùng của tủ quần áo."
Lật ra mặt sau còn một dòng chữ nhỏ hơn: "Nhưng cậu đừng nói cho em ấy biết chuyện tích kẹo, mình muốn đích thân đưa cho em ấy."
Tay tôi cầm mẩu giấy run lên bần bật.
Chị ấy đã nói ba lần về việc "đích thân": trong cuốn sổ công thức viết "làm món ngon cả đời cho em gái", trên thư viết "tích 39 viên kẹo", và trên mẩu giấy này viết "muốn đích thân đưa cho em".
Chị ấy chuẩn bị mọi thứ, đợi tôi đến để tận tay trao cho tôi. Nhưng chị ấy đã không đợi được tôi.
Thứ chị ấy đợi được là buổi chiều Trần Tri Ý trèo ra ngoài nhặt áo đồng phục.
Tri Ý im lặng hồi lâu, lấy từ trong túi ra hai viên kẹo, một xanh một vàng, đưa vào tay tôi: "Lọ kẹo đó mình tìm thấy trong phòng chị ấy. Sau khi xuất viện về dọn đồ, trên ngăn tủ cao nhất có đặt lọ thủy tinh, bên dưới đ/è một mẩu giấy: 'Để dành cho em gái'. Mình lấy một nửa, nửa lọ còn lại để lại trong tủ. Hai viên này mình kẹp trong nhật ký giữ đến tận bây giờ."
Tôi bóc viên kẹo màu xanh nhét vào miệng. Vị chanh, chua đến mức đầu lưỡi co lại, rồi vị ngọt từ từ lan tỏa—giống hệt giấc mơ của tôi, trong mơ đã từng có người nhét kẹo chanh cho tôi.
Tôi nắm ch/ặt viên kẹo còn lại trong túi, không bóc. Nhìn về phía sân thượng tầng bảy, cánh cửa sắt vẫn đóng ch/ặt, lưới thép đã hoen gỉ.
Sáu giờ sáng hôm sau, tôi một mình trong bếp.
Cuốn sổ công thức mở ra trên mặt bàn, lật đến trang bánh hoa quế. Hoa quế khô ngâm hai mươi phút, bột nếp và bột gạo tẻ rây mịn, giảm nửa đường, thêm nước từng chút một nhào thành khối.
Mẻ đầu tiên—khô, đường chưa tan, hoa quế nổi lềnh bềnh trên mặt. Tôi ghi chú: "Ít nước, nướng quá lửa." Mẻ thứ hai—thêm mười gam nước, bớt ba phút. Mềm rồi, nhưng quá dính không thành hình. Ghi chú: "Nhiều nước, thêm mười gam bột gạo tẻ."
Mẻ thứ ba, bốn, năm, sáu chồng lên nhau một đống sản phẩm thất bại.
Chú Hàn đứng ở cửa nhìn một lúc, bước vào giúp tôi làm nóng lại lò nướng, chỉ vào dòng chữ nhỏ: "Hoa quế khô ngâm xong phải để ráo, con không để ráo."
Làm lại. Ngâm hoa quế khô xong vắt sạch nước rồi mới nhào vào bột.
Mẻ thứ bảy màu sắc đã đúng, bề mặt nứt vài đường. Để nguội một chút, c/ắt một miếng cho vào miệng, độ ngọt vừa phải, mùi thơm của hoa quế tỏa ra từ bên trong.
Nhưng vẫn còn thiếu một chút. Chú Hàn chỉ vào bề mặt: "Rắc hoa quế khô lên, chị con có viết mà." Tôi lấy một nhúm rắc lên, đợi nguội hẳn.
Bẻ một miếng nhỏ nhai hồi lâu—độ cứng mềm vừa đủ, độ ngọt vừa đủ, nhịp điệu hương hoa quế lan tỏa trong miệng giống hệt mẫu thử đông lạnh mà Thính Tuyết để lại. Tôi ngước nhìn chú, chú vẫn đứng bên cạnh không nhúng tay vào.
"Trước đây lúc chị ấy làm, chú đứng bên cạnh xem ạ?"
"Chú đứng nhào bột bên cạnh. Chị con làm bánh, chú làm mì, làm xong chị ấy bưng qua cho chú nếm, bảo là 'Ba ơi ba nếm thử xem có ngon hơn lần trước không'."
Tôi bưng đĩa bánh hoa quế c/ắt làm ba miếng. Một miếng cho chú Hàn, một miếng để dành cho mẹ, một miếng tôi bẻ ra cắn một miếng.
Lần thứ ba mươi mốt, cuối cùng cũng đúng. Món đồ chị ấy làm năm năm trước, đến năm hai mươi bốn tuổi tôi mới làm ra được.
Tôi bưng ra ban công.
Chú Hàn theo sau xách theo bình nước. Mẹ ngồi trên ghế mây cũ, Tri Ý ngồi xổm bên lan can dùng điện thoại chụp cây hoa quế dưới lầu. Ánh nắng len lỏi qua khe giữa các tòa nhà.
Tôi đặt đĩa bánh lên chiếc bàn nhỏ ở giữa. Trước tiên đưa một miếng cho chú Hàn, chú nhận lấy cắn một miếng, nhai chậm rãi hai cái, hốc mắt lập tức đỏ lên, sau đó vội vàng nhét nốt nửa miếng còn lại vào miệng.
Ăn xong, chú quay lưng về phía cây hoa quế, bờ vai khẽ run lên, hồi lâu vẫn không quay lại.
Miếng thứ hai tôi đưa cho mẹ. Khi bà đưa tay đón lấy, ngón tay run bần bật, khiến miếng bánh cũng không giữ vững.
Bà khẽ cắn một miếng, rồi lại một miếng, đến miếng thứ ba thì đột nhiên dừng lại. Bà ngậm miếng bánh trong miệng, mãi không chịu nuốt.
Tôi lặng lẽ nhìn gương mặt nghiêng của bà, đôi môi bà khẽ mở ra rồi khép lại, nước mắt lặng lẽ lăn dài trên má.
"Đúng là cái vị của nó rồi," cuối cùng bà cũng lên tiếng, giọng nói đ/è cực thấp, mang theo âm mũi nghẹn ngào, "Giống hệt vị bà ngoại con làm."
"Là giống hệt vị chị Thính Tuyết làm." Tôi khẽ chỉnh lại lời bà.
Mẹ không đáp lời thêm nữa.