Diệp Khả Tình sống trong một căn chung cư cũ cách căn bếp hai con phố. Cô ấy đi phía trước Trừng Nguyệt, như thể bước chân đủ nhanh thì có thể trì hoãn câu trả lời thêm vài phút. Sau khi vào nhà, cô không bật đèn phòng khách, mà lấy trực tiếp từ ngăn dưới tủ lạnh ra một hộp kín.
Trong hộp là loại sốt đặc màu nâu nhạt.
Trừng Nguyệt không chạm vào, chỉ hỏi: “Bao bì gốc.”
Diệp Khả Tình lục từ đáy túi rác ra một chiếc túi bạc đã bị c/ắt. Mặt trước in logo nhà cung cấp, mặt sau ghi bảng thành phần rất đầy đủ. Ánh mắt Trừng Nguyệt di chuyển xuống dưới, dừng lại ở ba chữ “Sốt hạt điều”.
Cô không nói gì ngay.
“Không phải đậu phộng.” Diệp Khả Tình giải thích trước, “Tôi không lừa bọn trẻ.”
Trừng Nguyệt ngẩng đầu nhìn cô: “Cô cảm thấy câu này bây giờ có làm mọi chuyện khá hơn không?”
Sắc mặt Diệp Khả Tình đỏ bừng: “Tôi biết các loại hạt cần phải tách biệt, nhưng đây là loại sốt đã pha sẵn, không phải tôi tự rang hạt trong bếp. Mỗi nồi tôi chỉ cho hai thìa, mà toàn là vào buổi tối.”
“Cô dùng cái gì để xay?”
Diệp Khả Tình im lặng.
“Máy xay dùng chung?”
Cô gật đầu.
Đầu ngón tay Trừng Nguyệt lạnh toát. Chiếc máy xay đó sáng sớm cô dùng để làm súp đặc và món ăn mềm cho trẻ, tuy mỗi ngày cô đều rửa lại nhưng khe hở ở đế d/ao là nơi khó vệ sinh nhất. Các loại hạt cô chưa bao giờ cho vào máy dùng chung, ngay cả những sản phẩm nhà cung cấp ghi chú “sản xuất cùng dây chuyền”, cô cũng đều xử lý riêng tùy theo tình trạng của trẻ.
“Lần đầu tiên là ngày nào?”
“Khoảng một tháng trước.”
“Khoảng là chưa đủ.”
Diệp Khả Tình ngước mắt lên, hốc mắt đỏ hoe: “Cô nhất định phải làm đến mức này sao?”
Trừng Nguyệt không trả lời. Cô chụp lại số lô và thành phần, yêu cầu Diệp Khả Tình niêm phong chỗ sốt còn lại, sau đó đối chiếu thực đơn trong điện thoại và lịch sử chuyển khoản. Mỗi ngày có thêm món sốt cà ri đó đều phải tìm ra bằng được.
Quá trình này khó khăn hơn cô nghĩ vì Diệp Khả Tình không cố tình giấu tất cả mọi thứ. Th!t, rau, hương vị và nước dùng của cô ấy đều có hóa đơn nhập hàng rõ ràng, việc phân loại trong tủ lạnh cũng rất sạch sẽ. Hóa đơn bổ sung của Tôn Nhã Phương và Quách Bỉnh Xuyên gửi đến cũng đầy đủ. Ba sạp hàng không phải lấy thực phẩm không rõ nguồn gốc về trộn b/án, cũng không phải lấy chứng nhận của Trừng Nguyệt làm tấm bình phong cho việc bớt xén công đoạn.
Vấn đề lại chỉ tập trung vào chiếc túi bạc nhỏ bé đó.
Diệp Khả Tình cuối cùng cũng nói: “Trước đây tôi dùng nước cốt dừa, sau đó khách bảo không đủ đậm đà. Nhà cung cấp giới thiệu loại này, lần đầu m/ua tôi có hỏi có phải đậu phộng không, họ bảo không. Tôi thấy hạt điều, nghĩ rằng mình đâu có làm suất ăn trẻ em, hơn nữa thời gian buổi tối lại lệch với cô nên tôi không báo.”
“Ai nói với cô là chỉ cần không phải cho trẻ con ăn thì không cần để căn bếp dùng chung biết?”
“Không ai cả.”
“Vậy tại sao cô không ghi vào bảng chất gây dị ứng?”
Diệp Khả Tình cúi đầu: “Vì nếu viết vào, cô chắc chắn sẽ bắt tôi đổi thiết bị hoặc dành thêm thời gian vệ sinh. Lúc đó ngày nào tôi cũng làm đến tận nửa đêm rồi.”
Đây mới là câu trả lời thực sự.
Không phải là không hiểu, mà là biết cách làm đúng sẽ làm tăng chi phí, nên đã để rủi ro lại cho buổi sáng của người khác.
Lồng ngựk Trừng Nguyệt nghẹn lại, nhưng cô vẫn nhớ những ngày cô thất nghiệp, Khả Tình đã quấn áo khoác cho con cô, ngồi đợi cùng nó ngoài phòng khám như thế nào. Con người ta có thể tốt với bạn ở việc này, nhưng lại có thể đẩy rắc rối cho bạn ở việc khác. Hai việc đó không thể bù trừ cho nhau.
Khi quay lại căn bếp đã quá giờ ăn tối. Tôn Nhã Phương và Quách Bỉnh Xuyên vẫn đang đợi. Trừng Nguyệt đặt bức ảnh bao bì bạc lên bàn, cả hai người cùng biến sắc.
Quách Bỉnh Xuyên m/ắng trước: “Cô đi/ên rồi à? Dùng máy dùng chung để xay hạt điều?”
Diệp Khả Tình ngược lại bị m/ắng đến mức ngẩng đầu lên: “Anh đừng giả vờ như các anh chưa từng làm tắt. Tháng trước Nhã Phương chẳng phải cũng dọn muộn nửa tiếng sao?”
Tôn Nhã Phương lập tức đáp: “Tôi dọn muộn là đợi dầu nguội, không phải thay đổi nguyên liệu.”
“Thùng hải sản của Bỉnh Xuyên cũng từng đặt trong bồn rửa dùng chung đó thôi.”
“Tôi có làm theo lời Trừng Nguyệt dặn là khử trùng lại rồi.”
Chỉ vài câu nói đã x/é toạc vết rạn nứt trong nhóm nhỏ vốn luôn hỗ trợ lẫn nhau. Trừng Nguyệt gõ mạnh lên mặt bàn.
“Tôi không phải muốn các người đổ lỗi cho nhau.”
Cả ba người đều im lặng.
Cô trải bảng thời gian ra một lần nữa. Diệp Khả Tình x/ác nhận có chín buổi tối dùng sốt hạt điều, trong đó hai buổi dọn dẹp sau hai giờ sáng, và những buổi sáng hôm sau đó, Trừng Nguyệt đều làm suất ăn trẻ em. Mẻ đầu là cháo cá bí đỏ, mẻ sau là cơm hầm gà rau củ. Cả hai mẻ đều không thiết kế món có hạt, nhưng đều sử dụng khu vực làm việc chung; trong đó mẻ đầu còn dùng chính chiếc máy xay đó.
Sắc mặt Tôn Nhã Phương tái mét: “Nhưng cô có rửa lại mà.”
“Đúng, nhưng tôi không biết đêm trước là hạt điều. Khi tôi rửa không phải theo cách xử lý tiếp xúc với các loại hạt.”
Dật Xuyên lúc này đã quay lại, đứa trẻ đã được nhờ hàng xóm trông tạm. Anh nhìn thấy bao bì bạc, im lặng hồi lâu không nói gì.
Trừng Nguyệt đẩy ngày tháng trước mặt anh: “Hai mẻ này tôi phải thu hồi.”
Dật Xuyên ngẩng phắt đầu: “Chưa có đứa trẻ nào xảy ra chuyện cả.”
“Tôi biết.”
“Vậy giờ em chủ động nói có rủi ro hạt điều, bên phụ huynh chắc chắn sẽ không dám đặt cơm của em nữa đâu.”
“Tôi cũng biết.”
“Ba sạp hàng đã dừng rồi, em hà tất phải tự ch/ôn vùi chính mình?”
Trừng Nguyệt nhìn anh trai. Cô rất muốn hỏi anh, nếu người có khả năng ăn phải không phải con nhà người khác mà là con nhà mình, liệu anh có còn nói “không xảy ra chuyện thì thôi” nữa không.
Nhưng cuối cùng cô không hỏi.
Cô chỉ rút danh sách giao hàng của hai mẻ đó ra khỏi hồ sơ, tổng cộng mười bảy cái tên.
Trong đó có năm đứa trẻ có lệnh cấm rõ ràng với các loại hạt.
Trừng Nguyệt cầm điện thoại lên, số đầu tiên đã được bấm ra. Dật Xuyên đưa tay muốn ngăn lại, bàn tay dừng giữa không trung.
“Anh,” cô nói, “anh thay tôi quyết định một lần, thế là đủ rồi.”
Sau đó cô nhấn nút gọi.