Trong ba ngày tiếp theo, Tô Niệm Hà không nhắc lại chuyện hôn sự nữa. Cô vẫn sống trong nhà như cũ, ban ngày đến nhà hộ sinh, ban đêm lại chép sổ tiền chẩn phí nhiều năm thành một bản kế toán mới. Trình bà ban đầu chê cô phí dầu đèn, sau thấy cô viết ngày càng vững tay, bèn đem cả sổ xuất nhập dược liệu mấy năm qua của nhà hộ sinh cho cô xem.
Lúc này, Niệm Hà mới lần đầu tiên biết được tay nghề của mình rốt cuộc đáng giá bao nhiêu.
Khi cô mới học đỡ đẻ, chỉ có thể giúp Trình bà đun nước, giặt vải, ghi chép quá trình sinh nở, một ca không nhận được nổi nửa văn tiền chẩn phí. Sau này khi có thể tự mình xử lý quá trình sinh nở bình thường, Trình bà chia cho cô ba phần; về sau nữa khi gặp ngôi th/ai ngược hoặc băng huyết sau sinh, cô có thể túc trực bên cạnh bốc th/uốc, xoa tử cung, thay vải, nên phần chia được cũng nhiều hơn. Năm ngoái, số tiền chẩn phí cô giữ lại đã đủ cung cấp lương thực cho gia đình trong ba tháng.
Thế nhưng ở nhà, số tiền này luôn chỉ được gọi là "tiền Niệm Hà tiện tay mang về". Cha lấy đi m/ua dầu muối không ghi chép, Nghiên An đi thi thiếu vài xâu tiền cũng không ghi chép, chỉ khi cha quay lại tính xem cô bái sư tốn bao nhiêu, thì sổ cũ mới bỗng nhiên rõ ràng từng khoản một.
Cô chép lại những con số này, rồi đến tiệm th/uốc tìm chưởng quầy đối chiếu n/ợ nần. Chưởng quầy lật xem nửa ngày, nói nhà họ Tô ban đầu n/ợ thay cô mười một lượng tiền th/uốc, sau đó cha cô trả bốn lượng, Trình bà trừ từ tiền chẩn phí ba lượng, bản thân cô cũng lần lượt trả thêm hơn hai lượng, hiện tại số n/ợ thực sự còn lại chưa đầy hai lượng.
"Cha cô hai hôm trước còn đến hỏi, liệu có thể treo n/ợ hai lượng này lại trước không." Chưởng quầy nói, "Ta tưởng là cô bận chuẩn bị xuất giá nên không có thời gian quản."
Lòng Niệm Hà chùng xuống. Tám lượng sính lễ cha giữ lại, vậy mà ngay cả n/ợ th/uốc cũng không trả.
Sau khi về nhà, cô vừa đúng lúc gặp cha từ làng bên trở về. Cô hỏi tám lượng đó đã đi đâu, Tô Bỉnh Đức im lặng hồi lâu mới nói năm lượng đã đổi thành quà cáp để Nghiên An mang đi ứng thí, ba lượng còn lại giữ trong nhà để chi tiêu mùa thu.
Niệm Hà nghe xong không cãi vã, chỉ đặt sổ n/ợ ở tiệm th/uốc lên bàn. "Vậy tại sao hôm qua cha lại nói sính lễ sẽ dùng để trả n/ợ th/uốc cho con?"
Cha cô thẹn quá hóa gi/ận: "Con nhất định phải ép nhà này đến mức này mới cam lòng sao? Nếu Nghiên An đỗ đạt, những thứ này tính là gì? Con là nữ nhi, đã gả đi rồi, cũng không thiếu mấy lượng bạc này."
"Thứ con thiếu không phải là mấy lượng bạc." Niệm Hà nói, "Thứ con thiếu là mỗi lần các người lấy đồ của con, đều tự thay con quyết định rằng con không thiếu."
Tô Bỉnh Đức sững sờ.
Nghiên An nghe thấy ngoài cửa, vội vã bước vào: "Vậy tiền đồ của con thì sao? Năm nay con không đi, chẳng lẽ lại đợi thêm một năm? Tỷ, rõ ràng tỷ đã nói, chỉ cần con có cơ hội thi cử, tỷ sẽ giúp con."
Niệm Hà nhìn cậu ta. Cô quả thực đã nói như vậy. Khi lần thứ hai thi trượt, Nghiên An ngồi dưới hiên nhà cả đêm không nói lời nào, khi đó cô vỗ vai đệ đệ nói: "Chỉ cần em còn muốn thi, nhà này có sức thì cùng nhau cung phụng." Giờ đây câu nói này lại trở thành bằng chứng để cha lấy tiền sính lễ.
"Con nói là có sức thì cùng nhau cung phụng, chứ không phải là lấy sạch tiền sính lễ của con, còn thay con ký khế ước không thu tiền chẩn phí sau khi cưới." Cô nói.
Sắc mặt Nghiên An đỏ bừng: "Nhưng sính lễ vào cửa chính là bạc của nhà này."
"Vậy sau khi con gả vào nhà họ Thẩm, tay của con cũng là tay của nhà họ Thẩm sao?" Niệm Hà vặn hỏi.
Trong nhà lại lặng ngắt.
Cô đặt sổ tiền chẩn phí trước mặt hai người, nói: "Số tiền ba năm qua con mang về, con không đòi lại tất cả, cũng không nói các người n/ợ con. Nhưng từ hôm nay, ơn cũ n/ợ cũ phải phân định rõ ràng từng khoản một. Cha b/án ruộng cho con bái sư, Nghiên An chép sách m/ua hòm th/uốc cho con, con đều thừa nhận; tiền chẩn phí con thay nhà trả n/ợ, cũng phải thừa nhận. Sau khi thừa nhận rồi, không ai được phép lấy câu 'chúng ta từng nuôi con' ra để đổi lấy tay nghề của con cả nửa đời sau."
Ngựk cha cô phập phồng, cuối cùng vung tay áo bỏ ra ngoài.
Niệm Hà không đuổi theo. Cô ngồi xuống tính toán nốt số tiền chẩn phí còn lại, bỗng hiểu ra, điều thực sự khó khăn không phải là chứng minh mình đã chịu thiệt bao nhiêu, mà là thừa nhận đôi bên quả thực đã giúp đỡ nhau, nhưng vẫn phải nói một câu--đã từng giúp đỡ, không có nghĩa là sở hữu.
Ngày hôm sau, Trình bà để cô tự mình đi thăm khám hậu sản cho một sản phụ. Chồng của người đó thấy Niệm Hà còn trẻ, vốn định đưa ít tiền chẩn phí, nói rằng chỉ là nhìn qua một chút. Niệm Hà không tranh cãi, chỉ liệt kê từng khoản dược liệu, khăn vải đã dùng đêm qua và hai chuyến đi lại. Đối phương cuối cùng vẫn trả đủ số tiền. Khi bước ra khỏi cửa, cô bỗng hiểu rõ hơn, nếu bản thân không nói rõ ràng về lao động của mình, người khác sẽ chỉ coi những phần không nhìn thấy được là điều đương nhiên.
Sau khi về nhà hộ sinh, cô ghi việc này vào bên cạnh sổ tiền chẩn phí, đồng thời thêm một cột "công việc chưa thu phí". Trình bà nhìn thấy bèn cười cô tính sổ kỹ lưỡng. Niệm Hà đáp: "Không phải để thu thêm, mà là để biết con đã cho đi những gì." Nói xong câu này, chính cô cũng sững người. Hóa ra thứ cô đang học không chỉ là đỡ đẻ, mà là phân biệt đâu là tình cảm, đâu là công việc, đâu là những thứ phải hỏi ý kiến cô trước khi lấy đi.
Ở cuối sổ tiền chẩn phí, cô bổ sung thêm một câu: "C/ứu cấp có thể miễn, lệ thường phải minh bạch." Câu nói này về sau trở thành quy tắc đầu tiên cô giữ cho chính mình. Cô chợt biết rằng, tay nghề có giá, không có nghĩa là tình cảm không có giá; chỉ là tình cảm phải do chính cô quyết định khi nào cho, cho bao nhiêu.