Ngày các tộc lão đến, trong nhà chính nhà họ Tô bày hai chiếc bàn dài. Tô Niệm Hà đặt những cuốn sổ sách mình đã sắp xếp theo thứ tự: danh sách sính lễ nhà họ Thẩm, sổ n/ợ dược liệu, tiền chẩn phí ba năm, khế ước cũ khi cha b/án ruộng và chi phí ba lần đi thi của Nghiên An. Cô không chất đống sổ sách để tạo thành một lời tố cáo, chỉ ghi rõ nguồn gốc và mục đích trên từng tờ giấy.
Lúc đầu, Tô Bỉnh Đức cảm thấy vô cùng khó chịu, cho rằng việc đem chuyện nhà ra trước mặt các tộc lão là mất mặt. Nhưng Niệm Hà chỉ hỏi một câu: "Nếu không nói rõ vào hôm nay, đợi đến khi nhà họ Thẩm từ hôn đòi bạc, ai có thể nói cho rõ ràng?"
Tờ giấy đầu tiên viết về tiền sính lễ. Cha cô đích thân thừa nhận, trong ba mươi sáu lượng bạc mặt, hai mươi tám lượng đã đổi thành lộ phí và quà cáp cho Nghiên An đi thi, tám lượng còn lại cũng không dùng để trả n/ợ th/uốc như lời nói ban đầu. Các tộc lão bắt ông điểm chỉ, chú thích rằng việc sử dụng tiền sính lễ do nhà họ Tô tự ý xử lý, bản thân Niệm Hà không hề đồng ý.
Tờ giấy thứ hai viết về giấy n/ợ của đệ đệ. Niệm Hà không yêu cầu Nghiên An phải trả ngay ba mươi sáu lượng, chỉ yêu cầu cậu ta giao lại số lộ phí chưa sử dụng, còn phần đã tiêu thì trả góp theo năm. Nghiên An nghiến răng hỏi: "Nếu năm nay con không đi, hai năm trước chẳng phải phí công vô ích sao?"
Niệm Hà đáp: "Tiền hai năm trước của đệ không phải là phí công, đó là con đường của chính đệ. Chỉ là không thể dùng hôn sự của tỷ để tiếp tục cho đệ nữa."
Nghiên An nhìn về phía cha, nhưng lần đầu tiên cha không nói đỡ cho cậu ta. Cuối cùng, cậu ta mở hộp sách, lấy từ ngăn Iót ra hai mươi mốt lượng bạc chưa đổi thành bạc vụn đặt lên bàn. Điều này đồng nghĩa với việc cậu ta không kịp giờ xuất phát ban đầu, và cũng coi như bỏ lỡ kỳ thi năm nay.
Đôi mắt cậu ta đỏ hoe, nhưng vẫn điểm chỉ.
Tờ giấy thứ ba là khó nhất. Niệm Hà viết ra số tiền cha b/án ruộng cho cô bái sư, tiền Nghiên An chép sách m/ua hòm th/uốc, và số tiền cô bù vào chi tiêu gia đình cũng như trả n/ợ th/uốc sau này. Cô không nói ai n/ợ ai, chỉ viết ở dòng cuối cùng: "Sự hỗ trợ ngày cũ dừng lại ở sổ sách này, không được dùng làm lý do cho lao dịch trọn đời sau khi kết hôn."
Các tộc lão xem hồi lâu, nói câu này quá cứng nhắc. Tô Bỉnh Đức thì mặt mày tái mét: "Có phải con nhất định phải viết thành việc cha con đây muốn b/án con không?"
Niệm Hà im lặng một lúc, sửa lại: "Sự hỗ trợ ngày xưa đôi bên cùng thừa nhận, không được tự ý thêm vào nghĩa vụ chưa từng thương thảo."
Câu này nhẹ nhàng hơn một chút, nhưng ý nghĩa vẫn không thay đổi.
Cuối cùng mới bàn đến các điều khoản của nhà họ Thẩm. Thẩm Hoài Khiêm và thúc phụ của anh ta cũng đến. Niệm Hà đề xuất, sau khi kết hôn, nếu hai vị trưởng bối không có thu nhập cần chăm sóc sau sinh hoặc phụ khoa, cô có thể giảm miễn chẩn phí, chỉ thu phí dược liệu thực tế; còn các tộc nhân khác thì thu chẩn phí theo quy tắc của nhà hộ sinh như cũ. Những ca khó đẻ khẩn cấp không bàn tiền bạc trước, nhưng sau đó vẫn thanh toán theo khả năng.
Thúc phụ nhà họ Thẩm sa sầm mặt ngay tại chỗ: "Cưới một bà đỡ về nhà, mà người nhà còn phải trả tiền, truyền ra ngoài thì giống cái gì?"
Niệm Hà hỏi: "Nếu người cưới là một thợ mộc, chẳng lẽ người trong tộc xây nhà cũng không cần trả tiền công sao?"
Trong phòng có người không nhịn được cười khẽ, nhưng nhanh chóng thu lại.
Thẩm Hoài Khiêm mặt mày khó coi, nhưng không phản bác ngay. Anh ta nhìn quy tắc chẩn phí cô đã viết, nói nhỏ: "Chỉ giảm miễn cho hai vị trưởng bối, còn những người khác đều thu như cũ?"
"Đúng."
"Nếu mẹ ta muốn nàng đỡ đẻ cho đường tẩu thì sao?"
"Theo quy tắc nhà hộ sinh."
"Nếu bà ấy không vui thì sao?"
Niệm Hà nhìn anh ta: "Đó là cảm xúc của bà ấy, không phải khoản n/ợ của con."
Nói đến đây, tất cả mọi người đều biết cuộc hôn nhân này đã đứng trên bờ vực mong manh nhất.
Thế nhưng trong lòng Niệm Hà lại bình an hơn trước. Cô không phải đẩy hết tình thân và hôn nhân ra xa, cô chỉ lần đầu tiên để mỗi sự hy sinh đều có biên giới. Khi biên giới đã rõ ràng, ai sẵn lòng ở lại, mới là thực sự sẵn lòng.
Sau khi các tộc lão ra về, Nghiên An không thu giấy n/ợ lại ngay. Cậu ta nhìn chằm chằm vào dấu tay mình vừa điểm, đột nhiên hỏi Niệm Hà: "Nếu sau này con thực sự đỗ đạt, tờ này còn tính không?" Niệm Hà đáp: "Tiền trả xong thì không tính, những thứ khác cũng không tính thêm." Nghiên An cười khổ, như thể lần đầu tiên biết rằng một món n/ợ hóa ra cũng có điểm kết thúc.
Cha cô thì nhét tờ giấy ghi n/ợ sính lễ vào trong áo, cả người như thấp đi một đoạn. Trên đường về nhà, ông nói người trong tộc sẽ cười ông vì đem chuyện nhà ra làm văn bản. Niệm Hà không an ủi, chỉ nói: "Bị cười một lúc còn hơn là oán h/ận cả đời." Cha cô im lặng rất lâu, thế mà lại không m/ắng thêm câu nào.
Về phần nhà họ Thẩm, lúc rời đi Thẩm Hoài Khiêm quay đầu nhìn cô một cái. Niệm Hà có thể thấy anh ta vẫn hy vọng mọi chuyện chỉ là một cuộc tranh cãi, vài ngày nữa là có thể kết hôn theo quy tắc cũ. Nhưng cô đã biết, nếu quy tắc không được viết lên giấy, thì dù lời nhượng bộ có dịu dàng đến đâu cũng có thể bị thu hồi sau khi kết hôn.
Đêm đó, Niệm Hà cất lại ba tờ văn bản. Cô biết văn bản không thể đảm bảo lòng người không thay đổi, nhưng ít nhất có thể khiến những tranh chấp trong tương lai có nơi để đối chiếu. Cảm giác chắc chắn này rất nhỏ bé, nhưng là lần đầu tiên cô cảm thấy, bản thân không phải dựa vào lòng trắc ẩn của ai mới có được chút công bằng.
Khi cô quay lại nhà hộ sinh, Trình bà hỏi mọi chuyện thế nào. Niệm Hà chỉ nói: "Ai cũng không vui." Trình bà cười một tiếng: "Vậy phần lớn là đã chia công bằng hơn trước rồi." Niệm Hà cũng cười, nhưng nụ cười đắng chát. Cô biết công bằng chưa bao giờ đảm bảo sự hòa khí, chỉ đảm bảo cái giá phải trả không còn chỉ đổ lên đầu một người.