Sau khi căn nhà được treo biển b/án, rất nhanh đã có người đến xem.
Đôi vợ chồng đó dắt theo một đứa trẻ, lúc vào nhà liền hỏi liệu có thể biến căn phòng nhỏ bị niêm phong thành phòng sách không. Tri Du đứng bên cạnh, lòng không hề thấy đ/au nhói, chỉ nói rằng tường cần trát lại và ổ khóa cũ cũng nên thay. Đứa trẻ ngồi xổm cạnh chiếc ghế đẩu bảy đường vân hỏi: "Cái này ngồi được không ạ?"
Tri Du nói có thể.
Đứa trẻ ngồi lên lắc lư hai cái, chiếc ghế rất vững chãi. Đó là món đồ cô và Thẩm Vọng đã cùng nhau sửa vài ngày trước. Bảy đường vân hồi ức vẫn còn đó, như vết s/ẹo để lại từ vết thương cũ, nhưng không còn dài thêm, cũng chẳng phát ra âm thanh nào.
Sau khi người xem nhà rời đi, Thẩm Vọng hỏi: "Chị thực sự nỡ sao?"
"Không nỡ cũng phải b/án," Tri Du đáp, "không nỡ không phải là lý do."
Khi câu nói này thốt ra, chính cô cũng bật cười. Nhiều năm về trước, cô chính là người gh/ét nhất việc mẹ dùng câu "người nhà thì có gì mà không nỡ" để ngăn cản cô rời đi. Nay cô cuối cùng cũng có thể thừa nhận, không nỡ là thật, mà rời đi cũng là thật, hai việc không cần phải phủ định lẫn nhau.
Trước khi b/án nhà, họ thỏa thuận mỗi người giữ lại một món đồ nội thất.
Thẩm Vọng chọn chiếc ghế nhỏ ở ban công. Trên tựa ghế không có vân hồi ức, chỉ có hai chiếc đinh gỗ mẹ từng dùng để sửa chữa trước đây. Cậu nói muốn đặt nó bên cửa sổ nơi mình thuê trọ, thỉnh thoảng ngồi ăn sáng.
Tri Du chọn chiếc bàn làm việc của mẹ.
Mặt bàn có vết d/ao, có vết dầu, và cả vùng màu nhạt nơi mẹ từng mài đi những nét vẽ nguệch ngoạc bằng sáp màu của cô hồi nhỏ. Chiếc bàn quá nặng, cô vốn thấy phiền phức, nhưng cuối cùng vẫn nhờ công ty chuyển nhà đóng gói cẩn thận.
Khi dọn ngăn kéo cuối cùng, cô tìm thấy một ký hiệu bút chì nhỏ. Mẹ cô viết hai chữ: "Đừng sửa."
Tri Du sững sờ rất lâu.
Người làm nghề phục chế thường xuyên bị yêu cầu làm sao để các vết nứt biến mất. Nhưng mẹ đôi khi cũng nói, đồ cũ không nên sửa đến mức trông như chưa từng bị tổn thương, sự phục chế thực sự tốt là để nó có thể tiếp tục sử dụng, mà vẫn nhìn thấy được thời gian đã đi qua.
Tri Du giữ lại hai chữ đó, không mài đi.
Thẩm Vọng đứng bên cạnh nhìn thấy, đột nhiên nói: "Có phải mẹ sớm đã biết hai chị em mình sẽ tự sửa bản thân quá đà không?"
Tri Du cười một tiếng, mắt lại hơi cay.
Đêm trước khi bàn giao nhà, họ ăn bữa cơm cuối cùng trong ngôi nhà cũ. Không có hiện tượng đèn tắt, cũng không có âm thanh trong tường. Hai người gọi hai suất cơm hộp bình thường, ngồi trên thùng giấy mà ăn. Ăn được nửa chừng, Thẩm Vọng đột nhiên nhắc đến đêm mưa hôm đó.
"Thực ra trước đây em từng trách chị," cậu nói.
Tri Du không giả vờ ngạc nhiên.
"Chị biết."
"Em nghĩ nếu chị về, có lẽ mẹ sẽ không ngã gục lâu như vậy."
Tay cầm đũa của Tri Du khựng lại một chút. "Chị cũng từng nghĩ như vậy suốt nhiều năm."
Thẩm Vọng nhìn cô: "Nhưng bác sĩ lúc đó từng nói, dù đêm đó có người ở đó, cũng chưa chắc đã thay đổi được kết quả."
Câu nói này cả hai đều biết, nhưng đến tận hôm nay mới thực sự để nó có chỗ đứng.
Tri Du hạ giọng: "Điều chị hối h/ận là chị không về, không phải vì chị tin mình có thể c/ứu bà, mà vì đó là việc duy nhất chị muốn làm khác đi."
Thẩm Vọng gật đầu.
Họ không có nghi thức tha thứ cho nhau, bởi không ai có tư cách thay người khác xóa bỏ đoạn đ/au thương đó. Chỉ là nói ra những gì có thể nói, rồi phân loại rác, quét sạch sàn nhà, rút phích cắm tủ lạnh.
Đêm khuya, mười một giờ mười bảy phút, Tri Du theo bản năng liếc nhìn ánh đèn.
Không có chiếc nào tắt cả.
Cô đưa tay tự mình tắt công tắc phòng khách.
Lần này, bóng tối là do cô chọn.
Sau khi ký xong giấy tờ bàn giao nhà, Tri Du đưa chùm chìa khóa cuối cùng cho người môi giới. Trong chùm chìa khóa đó không có chiếc chìa khóa gỉ sét; cô giữ nó lại, nhưng không phải làm bùa hộ mệnh, mà đặt vào ngăn kéo xưởng làm việc, để cùng với vài món dụng cụ bình thường mẹ để lại. Thẩm Vọng hỏi cô tại sao không vứt đi, cô nói: "Vì nó thực sự từng tồn tại." Cô không muốn dùng việc h/ủy ho/ại đồ vật để giả vờ như chuyện chưa từng xảy ra, cũng không muốn để đồ vật tiếp tục quyết định cách cô sống. Chìa khóa chỉ là chìa khóa, căn nhà chỉ là căn nhà, quan trọng là cô cuối cùng cũng có thể phân định rõ khoảng cách giữa những thứ này và mẹ.
Khi công ty chuyển nhà khiêng chiếc bàn gỗ xuống lầu, Tri Du đi theo phía sau đỡ lấy góc bàn. Cô đột nhiên nhớ tới chính đoạn cầu thang đó nhiều năm trước khi cô kéo hành lý rời đi, lúc ấy mẹ đã không đuổi theo. Nay cô lại chuyển đồ đạc rời đi, nhưng không có ai dùng "về đi" hay "đừng đi" để giữ cô lại. Cầu thang không thay đổi, người cuối cùng cũng có thể đi con đường khác. Xuống đến dưới lầu, cô ngoái lại nhìn cửa sổ tầng hai một cái, không có đèn, không có bóng người, chỉ là một khung cửa sổ bình thường cần chủ mới thay lưới chắn côn trùng.
Chủ mới ngày bàn giao nhà không hỏi bất kỳ chuyện lạ nào, chỉ hỏi xe rác mấy giờ tới. Tri Du trả lời xong mới đột nhiên thấy nhẹ nhõm. Đối phương không cần kế thừa câu chuyện của cô, căn nhà cũng không cần bị gán mác nhà m/a hay đài tưởng niệm. Nó có thể trở lại chỉ là một địa chỉ có người sinh sống.