Căn nhà cũ cuối cùng vẫn được b/án, chỉ chậm hơn thời gian dự kiến hai tháng.
Trình Thế An không còn yêu cầu Ánh Thanh giúp dọn sạch bức tường ảnh nữa. Ông tự tay gỡ từng tấm ảnh trên tường xuống, chỉ để lại hai chiếc móc treo cũ đến tận cuối cùng. Một ngày trước khi bàn giao nhà, khi Ánh Thanh quay lại, bức tường đó đã hoàn toàn trống trơn, chỉ riêng ở giữa có một mảng hình chữ nhật màu nhạt hơn những chỗ khác, như một nơi đã che khuất ánh sáng suốt nhiều năm nay cuối cùng cũng lộ ra.
Cha đứng bên cạnh nói: "Cái khung ảnh đó ta không vứt."
Ánh Thanh gật đầu, không hỏi ông có muốn giữ lại không.
Họ vẫn không giỏi trò chuyện. Cha thỉnh thoảng nhắn tin hỏi cô đã ăn chưa, Ánh Thanh sẽ trả lời, nhưng không còn báo cáo lịch trình mỗi ngày nữa. Cô cũng không kể hết mọi tình hình gần đây của mẹ và em gái cho cha, chỉ chuyển đạt một phần nhỏ mà Ánh Hòa đồng ý: em vẫn ổn, có công việc, không muốn công khai thân phận, hiện tại chưa muốn gặp mặt.
Trình Thế An lần đầu tiên nghe thấy thế, trên mặt lộ rõ vẻ thất vọng, nhưng không hỏi thêm địa chỉ nữa.
"Để nó tự quyết định đi," ông nói.
Câu nói này đến quá muộn, nhưng Ánh Thanh vẫn ghi nhớ.
Hứa Tĩnh Lan thì vẫn tiếp tục viết thư. Mẹ con không bỗng dưng trở nên thân thiết. Có khi mẹ viết cả trang giấy, Ánh Thanh chỉ hồi âm ba dòng; có khi Ánh Thanh hỏi về chi tiết thời thơ ấu, mẹ phải mất mấy ngày mới trả lời. Họ đều không còn coi "đoàn tụ" là cách duy nhất để chứng minh tình yêu. Mẹ cũng không quay lại căn nhà cũ, thậm chí vào ngày b/án được nhà, bà chỉ viết một câu: "Cảm ơn con đã để tấm ảnh đó được nhìn thấy."
Những lá thư của Ánh Hòa là ổn định nhất. Hai chị em bắt đầu trò chuyện về những chuyện không liên quan đến bí mật gia đình: những loài cây em thích, những bức ảnh vô danh mà Ánh Thanh tìm thấy, cả hai đều gh/ét rau mùi, và đều c/ắt tóc ngắn khi áp lực. Một ngày nọ, Ánh Hòa gửi một tấm ảnh hồi nhỏ, nói: "Tấm này chắc chị chưa thấy bao giờ. Dì nói ngày đó chúng ta tranh nhau một cái chong chóng giấy, cuối cùng chị đã nhường cho em."
Ánh Thanh nhìn tấm ảnh và mỉm cười rất lâu.
Cô vẫn không có ký ức đó, nhưng không còn vội vã ép bản thân phải nhớ lại. Khoảng trống ký ức không đồng nghĩa với việc mối qu/an h/ệ không tồn tại, cũng không đồng nghĩa với việc nhất định phải được lấp đầy. Sau khi quét tấm ảnh, cô lập một thư mục cá nhân theo tiêu chuẩn của bảo tàng, cột nguồn gốc ghi "Ánh Hòa cung cấp", ngày tháng ghi "đang chờ x/ác nhận", không vì em là người nhà mà tự ý thêm vào những câu trả lời chủ quan cho các chi tiết.
Vài tháng sau, Ánh Hòa hỏi: "Năm sau nếu em đi công tác chỗ chị, mình đi uống cà phê nhé?"
Ánh Thanh nhìn chằm chằm vào câu đó, lòng bàn tay hơi nóng lên.
Cô trả lời: "Được. Lúc đó em quyết định nhé."
Không có kế hoạch cho những cái ôm, không có "cuối cùng gia đình cũng đoàn viên", chỉ là một ly cà phê chưa chắc đã uống thành công. Nhưng Ánh Thanh cảm thấy điều này giống một sự bắt đầu thực sự hơn bất kỳ màn trùng phùng đầy kịch tính nào.
Ở bảo tàng, gần đây cô nhận được một lô ảnh gia đình thời hậu chiến. Mặt sau vài tấm ảnh không viết gì cả, đồng nghiệp hỏi cô có muốn dựa vào trang phục và bối cảnh để đoán mối qu/an h/ệ nhân vật trước không. Ánh Thanh lắc đầu, nói: "Cứ để trống đã. Trước khi x/ác định được nguồn gốc, đừng tự ý điền mối qu/an h/ệ vào cho người ta."
Nói xong, chính cô cũng sững người.
Thì ra điều thực sự thay đổi cô trong năm nay, không chỉ là biết mình có em gái, mà là cuối cùng đã học được cách tôn trọng những khoảng trắng. Trước đây cô sợ khoảng trống, vì cha từng dùng khoảng trống để nói với cô rằng mẹ không cần cô; giờ đây cô biết, khoảng trống cũng có thể là nơi mà một người vẫn chưa sẵn sàng để nói.
Sau giờ làm, cô nhận được một tấm ảnh cha gửi. Trên tường căn nhà mới chỉ treo ba chiếc khung ảnh nhỏ: ảnh cũ của chính ông, ảnh tốt nghiệp của Ánh Thanh, và một chiếc khung trống.
Tin nhắn viết: "Tấm ảnh gia đình đó ta không treo. Để trống đợi ngày nào đó các con tự quyết định."
Ánh Thanh nhìn rất lâu, cuối cùng chỉ trả lời: "Vâng."
Cô không vì thế mà tha thứ cho mọi chuyện, cũng không cảm thấy gia đình đã vẹn nguyên trở lại. Mẹ không về nhà, em gái chưa gặp mặt, mối qu/an h/ệ cha con vẫn còn một chặng đường rất dài phía trước.
Nhưng ít nhất, lần này, ai sẽ đứng vào chiếc khung ảnh đó, không còn do một người thay mặt tất cả để quyết định nữa.
Sau khi hai chị em bắt đầu thư từ qua lại, điều khiến Ánh Thanh bất ngờ nhất không phải là sự tương đồng, mà là sự khác biệt. Ánh Hòa thích cây cối, không thích ảnh cũ; Ánh Thanh sợ mèo, nhưng Ánh Hòa lại có thể ôm con mèo già đó ngủ cả đêm. Những khác biệt này ngược lại khiến cô thấy nhẹ nhõm. Em gái không phải là một bản thể khác của chính mình bị tước đoạt, cũng không phải là mảnh ghép chờ đợi để bù đắp cho tuổi thơ. Em là một con người đã trưởng thành trọn vẹn, và điều họ có thể làm, chỉ là bắt đầu tìm hiểu nhau từ bây giờ.
Chiếc khung trống trong căn nhà mới không được lấp đầy, ngược lại trở thành sự sắp xếp mà Ánh Thanh chấp nhận nhất. Nó không còn tượng trưng cho việc ai đó bị xóa sổ, mà là để nhắc nhở tất cả mọi người: vị trí có thể để dành, mối qu/an h/ệ có thể từ từ quyết định, không ai cần phải vì để gia đình trông có vẻ trọn vẹn mà bị ép buộc phải đứng vào đó ngay lập tức.
Chậm một chút, cũng vẫn được tính là bắt đầu.