Sáng hôm sau, khách hàng hồi âm chỉ vỏn vẹn một câu: "Hướng đi mới thì được, nhưng vui lòng chứng minh cô vẫn còn khả năng nhận diện trên thị trường."
Hạ Tri D/ao nhìn câu này, chợt hiểu rằng thị trường chưa bao giờ chờ đợi ai. Cô rời đi năm năm, không chỉ thiếu tác phẩm mà còn thiếu sự xuất hiện liên tục, hồ sơ hợp tác và cả sự ưu ái từ thuật toán. Dù cô có chứng minh được bố cục bức tranh hot đó là của mình, cũng chẳng ai vì thế mà giao dự án lại cho cô.
Cô hẹn Đường Dĩ Thanh gặp mặt tại một xưởng in chung. Đối phương trẻ hơn cô tưởng, tóc c/ắt rất ngắn, ngón tay dính mực xanh. Tri D/ao đặt tác phẩm trên bảng xếp hạng hot và bản thảo cũ của mình cạnh nhau trên bàn, không hỏi "Có phải cô đạo tranh tôi không", mà hỏi: "Bố cục này, cô lấy từ đâu ra?"
Đường Dĩ Thanh nhíu mày, sau đó lấy từ tủ đồ ra một chiếc túi giấy kraft đã bị ép bẹp. Góc túi dán nhãn xưởng vẽ cũ, địa chỉ chính là căn nhà cũ nơi Tri D/ao từng sống cùng gia đình.
"Đối tác hợp tác gửi cho tôi," Dĩ Thanh nói, "Họ nói đây là một lô bản thảo cũ có thể tái sử dụng, tác giả đã ngừng vẽ, phía quản lý tài khoản đồng ý cấp quyền. Tôi chỉ nhận th/ù lao cố định."
Lồng ngựk Tri D/ao thắt lại. "Ai là người quản lý?"
"Tôi không biết tên. Chỉ có một hộp thư dùng chung."
Dĩ Thanh mở hồ sơ nhận thư năm đó cho cô xem. Tên tệp đính kèm không phải cách đặt tên gốc của Tri D/ao, nhưng lại giữ nguyên một đoạn ghi chú bằng bút chì quen thuộc ở mép trang quét. Kỳ lạ hơn là thứ được gửi đi không phải tệp phân lớp hoàn chỉnh, mà là bản quét từ bản cứng cô từng in ra rồi sửa bằng tay.
Điều này có nghĩa là bản thảo không bị đá/nh cắp từ đám mây, mà bị tuồn ra từ lô tài liệu vật lý ở nhà.
Tri D/ao nhìn sang Dĩ Thanh. "Cô biết đó không phải bố cục của cô không?"
Dĩ Thanh không trốn tránh: "Lúc đầu tôi biết đó là cải biên bản thảo cũ, sau này làm nhiều dự án, khách hàng cứ bảo 'làm theo hệ thống này đi', nên tôi cũng coi đó là quy trình làm việc. Tôi thừa nhận, tôi đã không truy hỏi nguồn gốc."
Sự thẳng thắn của cô ta ngược lại khiến Tri D/ao khó lòng trút toàn bộ cơn gi/ận lên người đối phương. Trong xưởng in, máy in đang nhả ra tấm poster của một nghệ sĩ khác, âm thanh đều đặn đến lạnh lùng. Tri D/ao chợt nhớ lại lúc mới vào nghề, cô cũng từng bị yêu cầu "vẽ theo cảm giác của tiền bối nào đó", chỉ là khi ấy cô vẫn tin giữa tham khảo và đá/nh cắp luôn có một ranh giới rõ ràng.
Dĩ Thanh nói khẽ: "Nếu chị muốn công khai, tôi có thể đưa cho chị bao bì nhận thư và email. Nhưng tôi cũng phải nói, tôi sống nhờ những dự án này. Khách hàng không chỉ tìm mỗi mình tôi, trên thị trường còn rất nhiều người nhận làm."
"Tôi không đến để h/ủy ho/ại cô," Tri D/ao nói, "Tôi chỉ muốn biết ai đã biến những thứ chưa được cấp quyền thành 'tư liệu sử dụng'."
Khi hai người trao đổi tệp tin, Tri D/ao chú ý thấy bên trong túi giấy có một vết hằn tròn cực nhạt. Đó là con dấu tay dùng để niêm phong gửi tác phẩm ở nhà, chỉ cô và Nam Châu biết nó được để ở đâu.
Trên đường về, cô nhận được tin nhắn của mẹ, hỏi tối nay có về ăn cơm được không, Nam Châu cũng có ở đó. Tri D/ao nhìn dòng chữ, lần đầu tiên không muốn trốn tránh.
Cô chợt nhớ lại khoảng thời gian mệt mỏi nhất năm năm trước. Mẹ cần người ở bên, hóa đơn trong nhà chồng chất, cô thậm chí còn viết mật khẩu mạng xã hội lên giấy nhớ đưa cho em trai, chỉ nói "Giúp chị trông coi, đừng để tài khoản ch*t". Cô chưa bao giờ hỏi Nam Châu rốt cuộc đã hiểu thành như thế nào.
Chiều tối về đến nhà, Nam Châu đang bưng canh lên bàn. Tri D/ao không xã giao, đặt thẳng chiếc túi giấy kraft lên trước mặt cậu.
"Con dấu này, có phải em đã gửi đi không?"
Tay Nam Châu khựng lại giữa không trung.
Mẹ ngẩng đầu nhìn hai người, vẻ mặt trên gương mặt rõ ràng không phải lần đầu nghe chuyện này.
Đường lui cuối cùng mà Tri D/ao muốn giữ lại cho gia đình bỗng chốc đ/ứt đoạn.
Trước khi Dĩ Thanh rời đi, Tri D/ao hỏi thêm một chuyện: "Cô có từng xem những bản thảo cũ hơn trong kho tư liệu không?"
Dĩ Thanh suy nghĩ một lát, mở thư mục cũ trên đám mây, bên trong chỉ còn lại ảnh thu nhỏ. Tri D/ao nhận ra ngay ba trong số đó là những bản thảo luyện tập chưa từng công bố, thậm chí có một bức vẽ dở dang đã bị cô gạch bỏ bằng bút đỏ. Cô không yêu cầu tải xuống, chỉ chụp lại cấp độ thư mục và ngày tạo. Những bức tranh này bản thân không có giá trị thương mại cao, nhưng lại chứng minh việc tuồn ra ngoài không phải là một bố cục đơn lẻ, mà là cả một lô quá trình sáng tác mà cô còn chưa quyết định xem có thành hình hay không.
Tri D/ao chợt nói với Dĩ Thanh: "Cô đừng xóa vội."
"Chẳng phải chị muốn dừng sử dụng sao?"
"Dừng sử dụng là một chuyện, giữ lại nguồn gốc là một chuyện. Xóa bây giờ, sau này mọi người chỉ còn lại ký ức."
Đây là lần đầu tiên sau khi tái xuất, cô dùng sự chuyên nghiệp chứ không phải cảm xúc để xử lý sự phản bội. Cô thậm chí bắt đầu hiểu ra, một người sáng tạo trẻ nếu được thông báo tư liệu đã được cấp quyền, lại làm việc dưới áp lực khối lượng dự án, rất dễ coi "nguồn gốc" là vấn đề mà nền tảng đã giải quyết hộ mình. Sự thấu hiểu này không giúp Dĩ Thanh miễn trách nhiệm, nhưng khiến Tri D/ao càng chắc chắn rằng, cô không thể viết toàn bộ sự việc này thành một màn bắt tr/ộm.
Khi bước ra khỏi xưởng in, cô nhận được thư thứ hai từ khách hàng mới. Đối phương truy hỏi: "Nếu không đi theo phong cách cũ, cô có thể cung cấp hướng đi mới trong vòng ba ngày không?" Tri D/ao nhìn thời hạn, lần đầu tiên cảm thấy áp lực thực tế thực sự: tra nguồn gốc sẽ tốn thời gian, xây dựng lại tác phẩm cũng tốn thời gian, mà thị trường sẽ không vì cô đang xử lý một vết thương cũ mà tự động gia hạn cửa sổ tái xuất cho cô.