Tiệm photocopy đã đóng cửa, cửa sắt chỉ kéo xuống một nửa. Kiến Hạ cúi người nhìn vào trong, một người phụ nữ đang kiểm kê giấy tờ ngẩng đầu lên, đối diện với cô qua lớp kính vài giây.
"Cô là Tô Kiến Hạ?" người phụ nữ hỏi.
Sống lưng Kiến Hạ lập tức căng cứng. "Cô quen tôi sao?"
"Chị cô đưa tôi xem ảnh rồi."
Người phụ nữ tên Tưởng Du, ngoài ba mươi tuổi, tóc ngắn, nói chuyện rất chậm rãi. Cô ấy không phải người từng xuất hiện trong các mối qu/an h/ệ xã hội của chị gái, cũng không có tên trong danh sách khách mời đám cưới. Khi Kiến Hạ vừa hỏi đến Kiến Thu, câu đầu tiên cô ấy nói là: "Chị ấy vẫn còn sống."
Kiến Hạ gần như tông cửa sắt nửa đóng nửa mở lao vào. "Chị ấy đang ở đâu?"
Tưởng Du lại lùi một bước. "Tôi không thể đưa cô đi."
"Cô nói chị ấy còn sống, nhưng lại không để tôi gặp chị ấy?"
"Không phải tôi không muốn, là chị ấy không cho phép."
Câu nói này khiến Kiến Hạ tức gi/ận hơn bất kỳ tin x/ấu nào khác. Cô truy hỏi xem chị gái có bị thương không, có bị giam cầm không, có thể tự do rời đi không, Tưởng Du chỉ trả lời câu cuối: "Tôi không biết."
Cô ấy kể bốn ngày trước, Kiến Thu đến photocopy một xấp thư cũ, yêu cầu giữ nguyên kích thước gốc của từng tờ, không được c/ắt lề. Sau khi in xong, chị lại gấp năm tờ trong số đó thành cùng một kích cỡ, rồi nhét cùng vài tờ biên lai vào túi giấy da. Tưởng Du thấy lạ, Kiến Thu mới giải thích: "Em gái tôi xem thời gian còn nhanh hơn xem chữ. Nếu tôi không quay về, con bé sẽ hiểu được một nửa."
"Một nửa kia là gì?" Kiến Hạ hỏi.
Tưởng Du lấy từ dưới quầy ra một chiếc túi hồ sơ trong suốt nhưng không đưa cho cô. "Sau khi bài hát thứ tư xuất hiện, tôi mới có thể đưa cho cô."
Kiến Hạ gi/ận đến run người. "Chị ấy mất tích rồi, cô còn chơi trò quy tắc với tôi sao?"
"Tôi đã hứa với chị ấy." Giọng Tưởng Du lần đầu trở nên cứng rắn, "Chị ấy nói điều nguy hiểm nhất không phải là không ai tìm mình, mà là tìm sai thời điểm."
Kiến Hạ nhìn chằm chằm vào túi hồ sơ. Bên trong có vài tờ giấy photocopy, trên cùng chỉ nhìn thấy chữ ký của mẹ lúc còn trẻ.
"Cô và chị tôi có qu/an h/ệ gì?"
"Trước đây ở cùng ký túc xá." Tưởng Du nói, "Sau đó tôi từng giúp chị ấy tra một địa chỉ cũ."
"Địa chỉ nào?"
"Sau bài thứ tư."
Kiến Hạ quay người bỏ đi. Đến đầu ngõ, cô mới phát hiện Cảnh Trừng đang đứng dưới cột đèn đường. Anh không chất vấn cô tại sao không kể lịch trình, chỉ nhìn mặt cô rồi hỏi: "Chị ấy nói gì?"
"Cô ấy nói chị gái còn sống."
Cảnh Trừng như bị ai đó đẩy mạnh từ phía sau, vai dựa nặng nề vào tường. Anh nhắm mắt vài giây, khi mở ra câu đầu tiên cũng là: "Ở đâu?"
"Cô ấy không nói."
Kiến Hạ kể cho anh nghe điều kiện của Tưởng Du. Cảnh Trừng im lặng quá lâu, khiến cô chợt nghĩ ra một chuyện: "Anh quen Tưởng Du sao?"
"Không quen."
"Vậy anh biết bài thứ tư là gì không?"
"Không biết."
"Anh biết chị ấy đang điều tra mẹ tôi sao?"
Lần này, anh không trả lời ngay.
Hy vọng vừa nhen nhóm trong lòng Kiến Hạ vì tin "chị gái còn sống" lập tức bị một tầng lạnh lẽo khác đ/è bẹp.
Cảnh Trừng thấp giọng nói: "Tôi biết chị ấy không tin phiên bản mà bố cô nói."
"Phiên bản nào?"
"Mẹ cô năm đó tự ý rời đi, sau đó b/ệnh mất ở nơi khác."
Kiến Hạ đột ngột ngẩng đầu. Đây chính là câu trả lời cô đã nghe từ nhỏ.
Cảnh Trừng nói tiếp: "Kiến Thu nghi ngờ, bà ấy không tự mình bỏ đi."
Biển hiệu quảng cáo phía bên kia đường chớp tắt liên hồi. Kiến Hạ đột nhiên hiểu ra, việc chị gái mất tích trước đám cưới có lẽ căn bản không bắt đầu từ đám cưới.
Nó bắt đầu từ ngôi nhà đó của nhiều năm về trước.
Tưởng Du còn kể với cô, lúc photocopy những bức thư đó, Kiến Thu từng hỏi một câu rất lạ: "Nếu một người luôn nói là vì tốt cho bạn, làm sao chứng minh được thực ra họ chỉ sợ bạn rời đi?" Tưởng Du lúc đó không trả lời được, chỉ nhớ khi Kiến Thu nhét tờ giấy cuối cùng vào túi hồ sơ đã nói: "Vậy thì xem họ có nguyện ý để bạn tự chọn hay không."
Kiến Hạ nghe câu này, người đầu tiên cô nghĩ đến không phải là bố, mà là Cảnh Trừng. Nửa năm chuẩn bị đám cưới này, chị gái thường phàn nàn Cảnh Trừng quá biết sắp xếp: nhà hàng, xe cộ, giờ về nhà, thậm chí cả lời lẽ khi gặp phụ huynh cũng nghĩ sẵn cho chị. Mọi người đều cười bảo đó là chu đáo, chị gái cũng cười, chỉ có vài lần sau khi cười xong chị sẽ đột nhiên im lặng.
Cô không muốn vì vậy mà trực tiếp coi Cảnh Trừng là người x/ấu, nhưng cô bắt đầu hiểu tại sao chị gái có thể vừa yêu một người, lại vừa không muốn giao quyền kiểm soát cuối cùng cho anh ta. Điều này khiến việc mất tích không còn chỉ là vấn đề "ai đã mang chị ấy đi", mà còn biến thành "chị ấy rốt cuộc đang trốn ai làm quyết định thay mình".
Trên đường về, cô ghi câu nói này vào mục ghi chú trên điện thoại. Nếu sự thật cuối cùng chỉ về phía người thân thiết nhất, cô cũng không cho phép bản thân vì gh/ét câu trả lời mà sửa lại ý nghĩa của những manh mối đã nhìn thấy.
Cô không truy vấn Tưởng Du thêm. Vì bài thứ tư là ngưỡng cửa chị gái tự đặt ra, ít nhất cô sẽ tôn trọng quy tắc chị để lại một lần, trước khi quyết định khi nào nên phá vỡ nó.