Lần hoàng hôn thứ bảy sắp tàn, khi mặt trời lặn xuống bức tường phía tây thành Mặc Hoàn, Cố Văn Dã đang đo một đoạn đường không thể rút ngắn trên bậc thang vòng phía bắc.
Sáng sớm, anh đi từ hội quán đến tháp chuông, nhớ rõ là bốn trăm hai mươi mốt bước. Lúc này, giữa hai cột mốc tương tự chỉ còn lại ba trăm sáu mươi bảy bước. Tiệm bánh việt quất ở góc đường, hai ô cửa sổ hẹp, cùng cả một đoạn tường đ/á, tất cả đều biến mất. Bề mặt bức tường phẳng lì như chưa từng có cửa ra vào.
Kỳ lạ hơn, một người đưa tin khoác áo choàng xám đang chạy tới từ hướng vừa biến mất. Đế giày cô dính bụi trắng, túi thư trên vai va đ/ập vào khóa đồng kêu lạch cạch. Khi dừng lại trước mặt anh, câu đầu tiên cô nói không phải là hỏi đường, mà là: "Đừng để họ chạm vào bản đồ của anh. Lần này đã mất đi một con đường rồi."
Cố Văn Dã siết ch/ặt dây đo. Anh vốn khắt khe với phương hướng và khoảng cách, sư phụ thường nói ngay cả khi nhắm mắt anh cũng biết một cánh cửa bị lệch bao nhiêu phân. Nhưng anh gh/ét nhất là người khác dùng giọng điệu này để nói với anh rằng, thế giới đã bị thay đổi khi anh không nhìn thấy.
"Cô từ đâu đến?"
"Phố Tây Toa."
"Thành Mặc Hoàn không có phố Tây Toa."
Người phụ nữ thở dốc nhìn anh, như thể câu nói này còn mệt hơn cả việc chạy qua nửa thành phố. "Bây giờ thì không."
Cô tên Sầm D/ao, là người đưa tin đúng giờ nhất của trạm thành. Cố Văn Dã nhận ra cô, vì ngày cuối cùng mỗi tháng, cô luôn thay mặt Hội Bản Đồ gửi báo cáo đo đạc biên giới. Cô chưa bao giờ đến muộn, cũng chưa bao giờ nói thừa một câu. Hôm nay, cô lại rút từ túi thư ra một tờ đơn niêm phong bằng bìa cứng, đ/è lên bảng đo đạc của anh.
Góc dưới bên phải tờ đơn đóng dấu ngày mai.
Cố Văn Dã nhìn ngày tháng trước, sau đó nhìn chữ ký của mình.
Đó đúng là chữ của anh. Phần đuôi chữ "Cố" mảnh dài có một nét gập mà chỉ mình anh biết, bên cạnh còn viết một câu: "Nếu lần thứ bảy vẫn thấy mực bạc, hãy tin cô ấy."
"Hôm nay tôi chưa từng ký cái này."
"Hôm qua anh cũng nói vậy," Sầm D/ao đáp.
Tháp chuông vang lên tiếng chuông chiều đầu tiên. Tất cả mọi người trong thành đồng loạt rảo bước. Thành Mặc Hoàn có một quy tắc được dạy từ thuở nhỏ: trước tiếng chuông chiều thứ bảy phải trở về nơi có mái che, vì sau khi tia sáng cuối cùng ở bức tường phía tây lặn xuống, vòng ngoài sẽ nổi sương m/ù trắng.
Cố Văn Dã lại chằm chằm nhìn vào bản đồ vòng phía bắc. Ở vị trí vốn vẽ phố Tây Toa, vệt mực đó đang phai dần, màu đen rút đi từ hai đầu, để lại một lớp bạc mỏng manh.
Anh từng thấy loại mực bạc này trong phòng học việc. Đó là vết hằn đáy chỉ hiện ra sau khi bản đồ cũ bị cạo bỏ.
"Ai đã sửa bản đồ?" anh hỏi.
Sầm D/ao nhìn về phía tháp nhọn của hội quán. "Lần nào cũng là họ."
Tiếng chuông thứ hai vang lên.
Cố Văn Dã lật mặt sau tờ đơn, có thêm một dòng chữ, như viết trong vội vã: "Nếu anh lại không nhớ, hãy hỏi tôi hôm nay là bức thư thứ mấy."
Anh ngước mắt lên.
Sầm D/ao nói: "Bức thứ bảy."
Giọng cô rất bình thản, nhưng tay lại luôn ấn ch/ặt miệng túi thư, đ/ốt ngón tay trắng bệch.
Cố Văn Dã chợt nhớ đến những chuyện nhỏ không thể giải thích trong vài ngày qua: trên bàn từng xuất hiện bản thảo đo đạc anh chưa từng vẽ; trong ngăn kéo có thêm một đoạn nến trắng ch/áy đen; sư phụ hỏi tại sao anh lại đem cùng một bản đồ vòng ngoài đi kiểm tra lại. Anh cứ ngỡ là do làm việc quá sức nên bị rối lo/ạn. Nhưng nếu lời Sầm D/ao nói là thật, đó không phải là sự lặp lại, mà là tàn dư.
Khi tiếng chuông thứ ba vang lên, hướng hội quán sáng đèn đỏ. Điều đó có nghĩa là phòng bản đồ trung tâm đang tiến hành chỉnh sửa.
Sầm D/ao nắm lấy tay áo anh, giây sau lại buông ra, như sợ anh hiểu lầm. "Ngăn họ lại. Chỉ cần sửa thêm một lần nữa, ngày mai sẽ lại lặp lại, và sẽ mất thêm một con đường nữa."
"Ngày mai?"
"Không phải ngày mai," cô nhìn anh, "là cùng một ngày hôm nay."
Lòng Cố Văn Dã chùng xuống.
Hai người chạy về phía hội quán. Con đường đ/á vốn rộng rãi ở vòng phía bắc trở nên hẹp bất thường trước mắt, tường nhà hai bên như bị ai đó đẩy lại gần một cách lặng lẽ. Sau tiếng chuông thứ tư, họ đi ngang qua một quảng trường nhỏ, Sầm D/ao đột nhiên dừng bước, nhìn về phía bức tường trống không bên trái.
"Ở đây vốn có một cái giếng."
Cố Văn Dã không phản bác. Bởi vì dây đo của anh ghi rõ khoảng cách từ tháp chuông đến hội quán phải là ba trăm bước, nay chỉ còn hai trăm tám mươi mốt.
Tiếng chuông thứ năm.
Cửa phòng bản đồ trung tâm đã khóa. Dưới khe cửa hắt ra ánh sáng bạc trắng. Cố Văn Dã dùng thẻ đồng học việc dán lên ổ khóa, nhưng bị một vệt mực phản chấn hất văng ra. Bên trong có người đang cạo bỏ bản đồ.
Sầm D/ao lấy từ trong túi thư ra một bức thư trắng không người nhận. Cô đưa cho anh, nhưng không buông tay ngay.
"Nếu không kịp, chỉ có thể để lại một món đồ đi qua."
"Đi qua đâu?"
"Trước lần hoàng hôn tiếp theo."
Tiếng chuông thứ sáu.
Cố Văn Dã cuối cùng cũng hiểu ý cô. "Người sẽ không nhớ?"
"Đa số là không."
"Cô thì sao?"
Sầm D/ao im lặng một lúc. "Tôi nhớ."
Anh nhìn cô. Khoảnh khắc đó, điều đầu tiên anh cảm thấy không phải là sợ hãi, mà là một sự thấu hiểu gần như tàn khốc -- nếu cô thực sự nhớ bảy lần, vậy thì cô đã bảy lần đứng trước một người không tin mình, để giải thích lại cùng một thảm họa.
Trước tiếng chuông thứ bảy, Cố Văn Dã nhét tờ đơn có ngày tháng tương lai vào bức thư trắng, viết thêm một câu: "Phố Tây Toa từng tồn tại. Sầm D/ao không nói dối."
Anh trao lại bức thư vào tay cô.
"Lần tới, hãy đưa nó cho tôi."
Sầm D/ao lần đầu tiên nở một nụ cười gần như đ/au đớn. "Lần nào anh cũng nói vậy."
Tia hoàng hôn cuối cùng vụt tắt.
Toàn thành im lặng một nhịp, sau đó tiếng chuông đảo ngược. Bậc thang, đèn đuốc, tiếng người như bị một bàn tay khổng lồ kéo ngược lại. Cố Văn Dã chỉ kịp nhìn thấy Sầm D/ao ôm ch/ặt bức thư, thế giới đã chìm vào màu trắng.
Khi mở mắt ra lần nữa, anh đang đứng trong phòng học việc buổi sáng, xe chở rau chuyến đầu tiên vừa đi ngang qua cửa sổ.
Trên bàn đặt một bức thư trắng anh chưa từng thấy, nhưng lại viết tên mình.