Hai mươi bốn ngày trước hôn lễ, bà Đào gọi Tri Vi vào chính đường.
Trên bàn ngoài thiệp hỉ, còn có thêm một bản hợp đồng mới.
“Nhà họ Tạ đồng ý cho con thuê tiếp ba gian phía Tây mười năm.” Bà Đào nói, “Chỉ cần hôn thư được định đoạt, mặt tiền xưởng nhuộm giáp phố sẽ giao họ sửa sang. Tiệm hương của con không cần dời, nữ công cũng không cần giải tán. Rốt cuộc con còn do dự điều gì?”
Tri Vi không chạm vào bản hợp đồng, chỉ hỏi: “Tại sao thời hạn thuê ban đầu lại vừa vặn đến trước ngày cưới một ngày?”
Ánh mắt bà Đào khẽ lóe lên.
“Là cha viết khi còn sống, hay là người tự ý thêm vào sau này?”
“Có quan trọng không?”
“Có.”
Bà Đào cuối cùng cũng ngồi xuống. “Hợp đồng gốc chỉ ghi là trước khi xuất giá. Sau khi nhà họ Tạ đến dạm ngõ, chính ta đã bảo quản sự Khê bổ sung ngày tháng. Ta cần biết sau khi con thành thân thì mấy gian phòng này thuộc về ai quản lý, không thể cứ treo lơ lửng mãi được.”
Lồng ngựk Tri Vi trĩu nặng. Cô đã sớm đoán ra, nhưng khi nghe chính miệng bà nói vẫn cảm thấy lạnh lẽo.
“Người đem hợp đồng thuê tiệm của con làm sợi dây thắt nút để ép hôn.”
“Ta đang giữ tiệm lại cho con!” Bà Đào lần đầu tiên cao giọng, “Đình Chiêu không về, xưởng nhuộm cứ để trống như vậy. Trước khi cha con mất, điều ông ấy không yên lòng nhất chính là con trai và sản nghiệp. Ta giữ sáu năm nay, con tưởng dễ dàng lắm sao? Nhà họ Tạ chịu tiếp nhận, con lại có tình cảm với Văn Chương, đây rõ ràng là con đường tốt nhất.”
“Tốt nhất cho ai?”
Bà Đào bị hỏi đến khựng người.
Tri Vi cầm bản hợp đồng mười năm lên. Người thuê cuối văn bản không phải là cô, mà là “Tạ Thị Hương Nghiệp”. Tên của cô chỉ xuất hiện trong phần phụ chú: Trưởng tức nhà họ Tạ là Lục thị được tiếp tục kinh doanh tiệm Hành Hương.
“Con không phải được thuê tiếp.” Cô nói, “Con chỉ là người được giữ lại trong tiệm để làm việc.”
Bà Đào ngoảnh mặt đi. “Chỉ là cách dùng từ thôi.”
Tri Vi đặt hợp đồng trở lại bàn. “Cách dùng từ sẽ quyết định ai có quyền đuổi con ra ngoài.”
Khi cô quay lưng bước đi, bà Đào lạnh lùng nói từ phía sau: “Nếu con thực sự hủy hôn, ta sẽ không để lại phía Tây cho con nữa. Đây không phải dọa con. Tiệm vải phố Đông sẵn sàng trả giá thuê cao hơn.”
Tri Vi khựng bước chân, không hề ngoảnh lại.
Khi về đến tiệm, cô bảo tất cả nữ công tạm dừng tay, tính toán lại từng khoản n/ợ, hàng tồn kho và đơn hàng. Nếu mất cửa tiệm, họ nhiều nhất chỉ trụ được mười tám ngày. Lò hương không thể tùy tiện dời, giá phơi, cối đ/á, tủ th/uốc đều phải dùng xe kéo. Phiền phức nhất là bảng hiệu của hương hành hội gắn liền với địa chỉ hiện tại, sau khi dời đi cần phải kiểm định lại, ít nhất sẽ phải ngừng kinh doanh một tháng.
Bà Lan nghe xong chỉ hỏi: “Cô muốn chúng tôi làm thế nào?”
“Con cũng chưa biết.” Tri Vi thành thật, “Cho nên phải tính toán hết những gì có thể biết trước đã.”
Cô không nói “tôi sẽ giữ lại tiệm” như trước kia nữa. Câu nói đó quá giống lời đảm bảo của cha, nghe thì hay nhưng cái giá phải trả luôn do người khác gánh vác.
Buổi chiều, cô tìm được hai căn nhà nhỏ có thể thuê ngắn hạn. Một căn quá ẩm thấp, một căn xa chợ, dù giá thuê thấp nhưng chỉ đặt được một lò hương. Nếu thực sự dời đi, tiệm Hành Hương ít nhất phải c/ắt giảm một nửa người.
A Mãn nhỏ giọng nói: “Chủ tiệm, nếu nhà họ Tạ có thể để chúng ta ở lại... thật ra cô thành thân cũng đâu phải chuyện x/ấu?”
Trong phòng bỗng nhiên im lặng.
Tri Vi không gi/ận. Cô biết A Mãn không phải đang b/án đứng cô, mà chỉ sợ mất việc.
“Em có thể hy vọng ta thành thân, vì điều đó ổn định nhất với em.” Tri Vi nói, “Nhưng tiền công của em không nên bị ràng buộc vào việc ta có gả hay không. Chuyện này là lỗi của ta trước, đã để cuộc sống của các người bị trói ch/ặt vào hôn sự của ta.”
Bà Lan ngước mắt nhìn cô, lần đầu tiên không nói đỡ cho cô.
Chạng vạng, Tạ Văn Chương tìm thấy cô ở bến sông.
Anh mang đến một bản đồ tuyến đường hương liệu, nói rằng nếu cô chịu tiến hành hôn lễ đúng hẹn, nhà họ Tạ có thể lập tức thả cho ba nhà cung ứng cũ, cũng sẽ xóa khoản tiền công nữ công ra khỏi danh mục sính lễ.
“Đây là ý của anh.” Anh nói, “Không phải của cha anh.”
Tri Vi nhìn tấm bản đồ đó, trong lòng có một thoáng lay động.
Văn Chương luôn là như vậy. Anh sẽ đưa ra một khe hở trông có vẻ thở được vào lúc cô sắp cảm thấy không còn đường lui.
“Còn hương phổ thì sao?” Cô hỏi.
Anh im lặng.
“Cha anh không chịu buông?”
“Đó là gốc rễ của sự hợp tác.”
Tri Vi mỉm cười. “Vậy tiền công có thể không tính vào sính lễ, nguồn cung có thể trả lại cho tôi, nhưng điều kiện tiên quyết vẫn là tôi phải mang công thức đó gả vào nhà họ Tạ.”
Văn Chương nhíu mày: “Tri Vi, làm ăn không thể không có trao đổi.”
“Tôi biết.”
Cô đẩy tấm bản đồ trở lại.
“Bây giờ tôi chỉ là lần đầu tiên muốn biết, trước khi trao đổi, những thứ nào vốn dĩ căn bản không phải của tôi.”
Trong đêm, Tri Vi tìm thấy một tờ biên lai cũ trong lớp Iót của cuốn hương phổ thứ bảy.
Ở mặt sau biên lai có một dòng chữ màu xám xanh: Nếu bài hương thành công, cùng ký tên với Tri Vi.
Bên dưới không có chữ ký của cha.
Chỉ có một chữ “Dung” bị mực đen bôi xóa.
Tri Vi nhìn chằm chằm vào cái họ bị bôi đen kia, chợt hiểu ra cha không phải quên để tên ai.
Đã từng có người yêu cầu.
Và cha đã chọn cách xóa cái tên đó đi. Cô gấp tờ biên lai vào túi áo tay của mình, quyết định đích thân đi tìm Dung Thất Nương.