Chưa kịp chính thức nói lời hủy hôn, tiệm Hành Hương đã mất đi đơn hàng lớn đầu tiên.

Lầu trà phố Bắc vốn đặt trước hai trăm hộp Vãn Hành, nghe tin công thức đang được đăng ký lại, chưởng quầy sợ thời gian giao hàng không ổn định nên đã chuyển hướng sang tiệm hương dưới quyền nhà họ Tạ. Tri Vi không ngăn cản. Ngay hôm đó, cô tất toán toàn bộ tiền công còn lại, đồng thời thông báo cho các nữ công về việc có thể phải ngừng kinh doanh một tháng.

“Ai muốn ở lại, tôi chỉ có thể đảm bảo trả lương theo ngày cho đến trước khi dời tiệm,” cô nói, “Sau khi dời đi, nếu tiệm mới chỉ đặt được một lò hương, tôi chỉ có thể giữ lại bốn người trước. Ai muốn tìm chỗ khác, tôi sẽ viết chứng nhận tay nghề cho các chị.”

Trong phòng không ai lên tiếng ngay.

Cuối cùng, hai nữ công có con nhỏ cần nuôi chọn cách đến tiệm mới của nhà họ Tạ. Khi Tri Vi tất toán tiền bạc cho họ, lòng bàn tay cô lạnh ngắt. Cô biết đây không phải là sự phản bội, nhưng vẫn cảm thấy như chính tay mình đang tháo dỡ từng mảnh thứ mà mình đã dày công gìn giữ bao năm.

Bà Lan ở lại. A Mãn cũng ở lại.

“Cháu còn trẻ, nhịn đói một tháng cũng không ch*t được,” A Mãn nói nhẹ tênh, nhưng vành mắt đã đỏ hoe.

Tri Vi không nói lời cảm ơn, chỉ ghi số ngày công mới vào sổ. Ở lại không phải là ân tình để bù đắp tiền công, cô không muốn trộn lẫn hai điều đó với nhau nữa.

Buổi chiều, cô đưa Dung Thất Nương đến hội hương để làm thủ tục đồng ký tên.

Khi thư lại đối chiếu sổ thử hương, ông dừng lại ở trang mười chín: “Lò này chỉ ghi “như cũ”, không nhìn ra ai sửa.”

Thất Nương nói: “Lò đó không sửa, không thể tính là phương pháp mới của ai.”

Tri Vi gật đầu.

Hai người cùng tách biệt công lao từng trang một, tiến độ còn chậm hơn cả lúc tranh cãi. Mãi đến khi nắng chiều rọi vào ô cửa, hai bộ sổ gốc mới của các bài hương mới hoàn thành. Ở cuối trang, hai cái tên được đặt cạnh nhau: Lục Tri Vi, Dung Thất Nương.

Khi cầm bản sao trên tay, Tri Vi không thấy nhẹ nhõm như tưởng tượng. Tờ giấy rất mỏng, bốn chữ lẽ ra phải được viết từ sáu năm trước, giờ đây chỉ là sự bổ sung muộn màng.

Chủ sự hội hương nhắc nhở cô: “Bảng hiệu tại địa chỉ hiện tại của cô chỉ có hiệu lực đến ngày hợp đồng thuê hết hạn. Nếu địa điểm mới chưa định, dù công thức đã đăng ký cũng không được phép b/án chính thức.”

Chuyện này cô đã sớm biết, nhưng khi thực sự đặt bút xuống giấy, nó vẫn như một cánh cửa vừa đóng sầm trước mắt.

Sau khi về nhà, Tri Vi mở chiếc hộp sắt của cha ra lần nữa, định tìm danh sách khách hàng cũ. Khi lấy tờ khế ước xưởng nhuộm ở tận đáy lên, một phong thư ố vàng rơi ra từ lớp Iót.

Trên phong thư là nét chữ của Đình Chiêu.

Ngày tháng trên thư là hai tháng trước khi cha viết lại văn bản gia sản.

Tri Vi ngồi bệt xuống đất mở lá thư ra. Đình Chiêu viết không dài: Anh đã theo sư phụ ở sở thủy công vùng biên giới phía Bắc, không có ý định về thành tiếp quản xưởng nhuộm, cũng không muốn cha dùng sản nghiệp để ép anh về nhà. Nếu cha nhất định phải giữ lại, anh thà không cần, xin hãy giao những căn phòng có thể sử dụng được cho Tri Vi làm hương.

Tri Vi đọc đi đọc lại hai lần.

Cha không phải không biết con trai sẽ không trở về.

Ông chỉ là thà để lại toàn bộ xưởng nhuộm cho một người đã từ chối rõ ràng, chứ nhất quyết không giao cho người con gái đang thực sự sử dụng nó.

Bà Đào đứng ở cửa, nhìn thấy lá thư đó, mặt trắng bệch.

“Người biết từ sớm rồi sao?” Tri Vi hỏi.

Bà Đào không phủ nhận: “Cha con nói Đình Chiêu còn trẻ bồng bột, rồi sẽ có ngày hối h/ận.”

“Cho nên người cũng hùa theo chờ đợi?”

“Ta biết làm sao được? Đó là lời của cha con để lại.”

Tri Vi bỗng thấy mệt mỏi vô cùng: “Người có thể không trói buộc cả con vào đó.”

Bà Đào cắn môi: “Nếu ta không giữ xưởng nhuộm, lỡ ngày nào Đình Chiêu về, ta biết ăn nói thế nào?”

“Còn con thì sao?”

Bà Đào sững sờ.

“Con ở đây sáu năm, trả tiền sửa nhà, nộp thuế tiệm, nuôi công nhân, người chưa bao giờ nghĩ đến việc phải ăn nói với con. Bởi vì người luôn nghĩ rằng sớm muộn gì con cũng gả đi.”

Vành mắt bà Đào đỏ lên, nhưng vẫn không thốt ra lời xin lỗi.

Tri Vi gấp lá thư của Đình Chiêu lại. Nó không phải là văn bản chuyển nhượng hợp pháp, không có người làm chứng, cũng không thể ngay lập tức biến xưởng nhuộm thành của cô. Cô có thể mang nó đi tranh đấu, có lẽ phải kéo dài vài tháng thậm chí vài năm.

Nhưng cô bỗng không muốn đặt cược đoạn đời tiếp theo của mình vào việc cha “thực ra có nguyện ý” cho cô một chút gì đó hay không.

Hôm sau, cô đi xem một căn viện nhỏ ở phía Tây thành chỉ có hai gian phòng.

Giá thuê rẻ, không có vị trí đẹp giáp phố, nhưng sân sau khô ráo, có thể đặt một lò hương và ba hàng giá phơi.

Người môi giới hỏi: “Lục cô nương muốn thuê bao lâu?”

Tri Vi nhìn cây táo mọc xiêu vẹo trong sân.

“Trước mắt là ba năm.”

“Dùng tên của ai?”

Cô dừng lại một nhịp.

“Của tôi.”

Đó là lần đầu tiên cô ký vào một tờ khế ước thuê tiệm không dựa trên thời hạn xuất giá, hay dựa vào cha hoặc anh trai.

Sau khi ký xong, cô không cất giấy ngay mà hỏi rõ mọi chi phí dời lò, sửa ống khói và phí ngừng kinh doanh một tháng. Tổng số tiền nhiều hơn mười ba lượng so với số bạc mặt cô có. Người môi giới nói có thể thế chấp trang sức của cô, cô lại nhớ đến những món đồ vàng trong rương hồi môn vốn dĩ định mang theo khi xuất giá.

Tri Vi về nhà, lấy ra hai chiếc trâm mẹ để lại, còn lại những món đồ hỉ sự khác cô không đụng đến.

Bà Đào nhìn thấy liền hỏi: “Con thực sự muốn lấy của hồi môn đi thuê cái viện rá/ch nát đó sao?”

“Hai chiếc này là mẹ để lại cho con, không phải của nhà họ Tạ, cũng không phải của xưởng nhuộm.”

“Vậy sau này con tính thế nào?”

Tri Vi cất khế ước tiệm mới vào trong áo: “Sau này nếu còn một căn nhà nào muốn con ở lại, con phải biết cái tên trên cửa có phải là của con hay không đã.”

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Tôi tìm thấy chị, nhưng chẳng thể gọi chị về nhà

Chương 12
Sau khi người cha báo án vợ mình là Lâm Nhã Thanh mất tích, Hứa Tri Hạ lại phát hiện hai mươi bảy hộp cơm mẹ để lại trong tủ đông tại nhà: tám hộp nắp đỏ, mười chín hộp nắp trắng. Dựa vào thói quen chuẩn bị bữa ăn không hề thay đổi suốt nhiều năm của mẹ cùng mật hiệu thời thơ ấu, cô nhận ra đây không phải là lời từ biệt, mà là ngày liên lạc an toàn vào mười chín tháng tám. Trên hành trình truy tìm, cô tìm thấy người chị gái Ninh An đã mất liên lạc suốt năm năm, đồng thời biết được mẹ đã dùng số lượng hộp cơm để sắp xếp lịch liên lạc an toàn hàng tháng, bởi lẽ người chồng đã kiểm soát điện thoại, tài chính và vị trí của bà trong thời gian dài. Tri Hạ buộc phải lựa chọn giữa việc xác nhận xem mẹ có thực sự tự nguyện rời đi hay không, tránh việc giao lại lộ trình an toàn cho người cha, và việc dừng các hoạt động tìm người công khai gây tổn thương. Cuối cùng, người mẹ đã hoàn tất việc xác nhận an toàn chính thức, người chị vẫn không quay về ngôi nhà cũ, và Tri Hạ cũng ngừng giúp cha tìm người, để mỗi người được tự chọn vị trí của riêng mình.
0