Tuần đầu tiên ở trạm điền dã, sóng điện thoại yếu đến mức như một bài kiểm tra tính cách.
Tôi và Chu Yến Xuyên vốn hẹn gọi điện mỗi tối lúc chín giờ. Ngày đầu tiên thành công, ngày thứ hai tôi lạc trong núi thu tiếng côn trùng nên lỡ hẹn, ngày thứ ba anh bận đi thu âm tiếng ồn đêm ở chợ cùng phòng thu, ngày thứ tư chúng tôi cuối cùng cũng kết nối được, nhưng cả hai đều mệt đến mức chỉ biết hỏi: "Cậu ăn chưa?"
Ngày thứ năm, tôi bật cười trước.
"Có phải chúng ta lại biến việc yêu nhau thành một lịch trình phát sóng không?"
Yến Xuyên sững người ở đầu dây bên kia, rồi cũng cười. "Có vẻ là vậy."
Thế là chúng tôi hủy bỏ cuộc hẹn chín giờ mỗi tối.
Quy tắc mới rất đơn giản: muốn nói chuyện thì cứ hỏi, không rảnh thì có thể từ chối; quyết định quan trọng phải báo cho đối phương biết, nhưng không phải là xin phép; lỡ hẹn đột xuất phải nói lý do, không được lấy "cậu trước đây cũng thế" ra để bù trừ.
Thực hiện được điều này chẳng hề lãng mạn chút nào.
Lần đầu tiên anh hủy cuộc hẹn cuối tuần vì công việc, tôi vẫn gi/ận đến mức đi bộ quanh ký túc xá hai mươi phút. Tôi không trả lời "không sao đâu" mà nói thẳng với anh: "Tớ biết cậu không cố ý, nhưng tớ rất thất vọng."
Anh đáp: "Cứ thất vọng đi. Lần sau tớ sẽ không hứa những việc không làm được."
Không có quà bù đắp bất ngờ, cũng chẳng có chuyện anh vội vã chạy đến bên tôi.
Cuối tuần đó, tôi tự đi cùng nhóm thu âm tiếng kéo lưới lúc bình minh ngoài biển. Gió rất to, trong tai nghe toàn tiếng sóng. Khi nhấn nút ghi âm, tôi chợt nhớ lại mình ngày xưa có lẽ sẽ giấu đi một nửa niềm vui này, sợ người ở xa nghe thấy rồi cảm thấy bản thân không được cần đến.
Lần này, tôi gửi cho Yến Xuyên ba mươi giây.
Anh gửi lại một đoạn tiếng mưa dưới gầm cầu vượt thành phố.
Không có bốn chữ "tớ nhớ cậu", nhưng lại giống chúng tôi hơn bất kỳ lời hứa hẹn nào.
Tháng thứ hai, tôi lỡ mất buổi phát sóng chương trình chính thức đầu tiên của anh sau khi vào phòng thu. Hôm đó vùng núi mất điện, đợi đến khi có sóng lại thì đã là ngày hôm sau. Tôi mở đường dẫn anh gửi, lòng đ/au như c/ắt.
Tôi nói: "Xin lỗi, tớ không kịp nghe."
Anh nói: "Tớ thực sự hy vọng cậu có mặt. Nhưng cậu không n/ợ tớ một lần xem bù."
Tôi đã phát lại ba lần.
Chúng tôi vẫn sẽ cãi nhau.
Anh trách tôi cứ bận là biến mất, tôi trách anh gặp áp lực vẫn dùng kiểu "tớ sao cũng được" để trốn tránh bày tỏ. Có lần thậm chí hai ngày không liên lạc, không phải chiến tranh lạnh, mà là mỗi người cần đặt cơn gi/ận lại vào chính mình.
Ngày thứ ba, anh nhắn một câu: "Tớ nói chuyện được rồi. Còn cậu?"
Tôi đáp: "Chín giờ rưỡi."
Cuộc điện thoại đó không hề kịch tính. Chúng tôi chỉ nói hết vấn đề, ghi cách xử lý lần sau vào ghi chú chung. Bản kế hoạch chung trước đây viết đầy "chúng ta phải cùng nhau", còn dòng đầu tiên của ghi chú mới là: "Mọi ước hẹn đều có thể thảo luận lại."
Nửa năm sau, giai đoạn một của dự án điền dã kết thúc, tôi mang một ổ cứng đầy âm thanh quay lại thành phố đại học để chia sẻ kết quả.
Trạm phát thanh đã có người dẫn mới. Hà Đình cho chúng tôi mượn phòng thu cũ nửa tiếng để sắp xếp tư liệu.
Yến Xuyên đến muộn mười phút so với giờ hẹn, vừa đẩy cửa vừa thở hổ/n h/ển xin lỗi.
"Phòng thu có việc đột xuất."
"Cậu có nhắn tin trước, miễn tội."
Anh đặt cốc trà sữa không quá ngọt lên bàn tôi. "Lần này có hỏi, ba phút trước cậu đã trả lời 'được'."
"Tiến bộ nhiều đấy."
Ngoài cửa sổ, trời dần tối. Tôi mở đoạn ghi âm mình thích nhất trong nửa năm qua cho anh nghe: bình minh trên biển, một ông lão kéo dây thừng, phía xa có người hét lên thủy triều sắp đổi hướng.
Yến Xuyên nghe xong im lặng rất lâu.
"Rất hay," cuối cùng anh nói.
"Chỉ 'rất hay' thôi sao?"
"Tớ sợ nói nhiều quá lại giống giám khảo."
"Trước đây cậu đâu có kiềm chế thế."
"Đã được giáo dục qua rồi."
Tôi cười rồi đ/á nhẹ vào chân ghế anh.
Anh cũng cho tôi nghe kế hoạch mới của phòng thu. Tháng sau anh phải đi đóng quân ở thành phố khác sáu tuần, lần này anh báo cho tôi trước khi quyết định nhận lời.
"Cậu muốn đi không?"
"Muốn."
"Vậy đi đi."
Anh nhìn tôi. "Không hỏi chúng ta phải làm sao à?"
"Phải hỏi chứ," tôi nói, "nhưng trình tự khác nhau. Phải biết cậu muốn gì trước, rồi mới bàn chúng ta phải làm sao."
Anh mỉm cười.
Chúng tôi không hề trở nên chín chắn đến mức không còn biết sợ hãi chỉ vì nửa năm yêu xa. Ngược lại, biết rằng lựa chọn thực sự có cái giá của nó, tôi càng hiểu rõ mỗi lần nói "đi đi" đều chẳng hề nhẹ nhàng.
Chúng tôi lỡ mất bữa trưa, buổi phát sóng đầu tiên, cốc nước lúc ốm đ/au của nhau, và cả những chuyện nhỏ nhặt vốn chỉ cần mười phút là có thể chia sẻ. Những khoảng trống này không tự động được tình yêu lấp đầy.
Nhưng chúng cũng không bị ghi lại thành món n/ợ.
Buổi tối, chúng tôi cùng đi đến nhà ga ngày ấy.
Mười một giờ ba mươi tám phút, chuyến tàu cuối sắp chạy. Sáng mai tôi mới đi, không cần bắt tàu; Yến Xuyên cũng không nói "đã đến rồi thì cùng ngồi một chặng đi".
Tàu vào ga, ánh đèn lướt qua gương mặt chúng tôi.
"Cậu còn nhớ đêm tốt nghiệp không?"
"Tớ chạy đến mức suýt nôn, tất nhiên là nhớ."
"Lúc đó tớ thực sự rất muốn bảo cậu đừng lên tàu."
"Tớ biết."
"Cậu biết?"
"Ngón cái của cậu cứ ấn ch/ặt vào ngón trỏ."
Anh cúi đầu nhìn tay mình, cười đầy bất lực.
Cửa tàu đóng lại, đoàn tàu lăn bánh rời đi.
Tôi chợt thấy, đêm đó thứ thực sự được chúng tôi để lại không phải là một thành phố, cũng chẳng phải lời hứa vĩnh hằng.
Mà là một chỗ trống - để đối phương có thể thay đổi, có thể đi xa, có thể nói không, và cũng có thể hỏi lại một lần nữa khi muốn quay về.
Trước khi chuyến tàu cuối cùng rời đi, chúng tôi đều từng nghĩ câu trả lời của tình yêu là cùng ở lại.
Sau này mới học được rằng, thứ thực sự giúp chúng ta đi xa cùng nhau, chính là không ai thay ai đưa ra câu trả lời.