Gia Ngôn phải đến ngày thứ ba mới chịu lấy cuốn sổ nhỏ đó ra.
Bìa ngoài là bìa cứng dùng để kẹp túi th/uốc lúc mẹ còn nằm viện, phần đầu cuốn sổ ghi chép ngày tháng vật lý trị liệu và huyết áp, phần sau mới là chuyện tiền nong. Nhược Ninh lật đến những trang ghi về tiền học vấn, thấy nét chữ của mẹ r/un r/ẩy hơn bình thường.
Dòng đầu tiên viết: "Tiền học vấn của Nhược Ninh, không được lấy đi bù vào việc kinh doanh của Gia Ngôn."
Cách ba trang, lại có một câu: "Nếu gia đình thực sự lâm vào đường cùng, Gia Ngôn cứ lấy dùng trước, nhưng đừng nói cho Nhược Ninh biết, nó mà biết thì nhất định sẽ không chịu đi học nữa."
Nhược Ninh nhìn hồi lâu, ngẩng đầu hỏi: "Hai câu này, em muốn chị tin câu nào?"
Gia Ngôn cười khổ: "Em cũng không biết."
Đây chính là dáng vẻ nhất quán của mẹ trong những năm cuối đời. Một mặt, bà luôn nói Nhược Ninh đã làm quá nhiều cho gia đình, mặt khác, cứ hễ Gia Ngôn xảy ra chuyện, người đầu tiên bà gọi điện vẫn là Nhược Ninh; bà nói hy vọng con gái được đi học, nhưng lại luôn nhắc đến chuyện điện nước, tiền v/ay m/ua nhà và công việc không ổn định của em trai mỗi khi Nhược Ninh điền phiếu báo danh. Mẹ không cố ý h/ủy ho/ại cuộc đời cô, bà chỉ quá quen với việc dùng người có khả năng chống đỡ tốt nhất để bù đắp vào những chỗ mong manh nhất.
Mà Nhược Ninh luôn là người "dễ dùng" nhất.
Cô chụp lại những trang liên quan trong cuốn sổ nhỏ, rồi đòi Gia Ngôn đưa sao kê ngân hàng. Lần này Gia Ngôn không từ chối. Cậu đăng nhập vào ngân hàng trực tuyến, xuất lịch sử bảy năm ra từng đoạn một. Trong số bốn trăm hai mươi tám nghìn tệ ban đầu, có năm mươi nghìn đến từ việc mẹ b/án trang sức nhiều năm trước, mười hai nghìn là phần của Nhược Ninh trong số tiền bảo hiểm mà cha để lại cho hai con trước khi qu/a đ/ời, số còn lại là tiền mẹ tích cóp dần mỗi tháng.
Nhược Ninh nhìn thấy khoản mười hai nghìn đó, lồng ngựk càng thêm nặng trĩu.
"Vậy đây không phải tiền của riêng mẹ."
"Đúng."
"Vậy thì càng không có lý do gì để không nói cho chị biết."
Gia Ngôn cúi đầu nói: "Mẹ nói nếu chị biết, thì hễ gia đình có chỗ nào thiếu hụt, chị sẽ là người đầu tiên lấy tiền ra."
Nhược Ninh không nhịn được mà bật cười: "Kết quả là để ngăn chị lấy ra, bà bảo em giấu chị, rồi cuối cùng hai người vẫn lấy dùng."
Mặt Gia Ngôn đỏ bừng: "Em dùng bao nhiêu em sẽ bù lại."
"Bù bằng gì? Khoản v/ay kỳ tới em còn không trả nổi."
Một câu nói khiến cả hai im lặng.
Nhược Ninh tiếp tục đối chiếu chi tiết. Cô vốn tưởng tám mươi hai nghìn thiếu hụt kia đều là n/ợ của Gia Ngôn, nhưng thực tế không phải vậy. Trước lần nhập viện cuối cùng của mẹ, nhà bị dột phải sửa tốn mười tám nghìn; tiền hộ lý làm thêm giờ mười ba nghìn; th/uốc tự chi trả hai mươi mốt nghìn. Khoản thực sự bù trực tiếp vào xưởng của Gia Ngôn là hai mươi sáu nghìn.
Con số này không làm cô bớt gi/ận, nhưng nó khiến cơn gi/ận của cô trở nên rõ ràng hơn.
"Chi phí y tế của mẹ, chị có thể gánh một nửa," cô nói, "Nhà là của chung chúng ta, cũng có thể tính. Còn hai mươi sáu nghìn ở xưởng của em là em n/ợ chị."
Gia Ngôn không phản bác.
Nhược Ninh lại mở lịch sử chuyển khoản ba năm qua của mình, đối chiếu từng khoản chi tiêu gia đình trong cùng thời kỳ. Cô phát hiện ra có những lúc mẹ dùng tiền cô gửi để trả viện phí, nhưng lại giữ lại khoản tiền học vấn vốn có thể dùng được; có lúc lại ngược lại, lấy tiền học vấn ra trước, rồi dùng tiền cô gửi để bù vào vòng xoay vốn của Gia Ngôn.
Giống như hai cái xô nước bị đổ qua đổ lại, cuối cùng không ai nói rõ được là ai đang nuôi ai.
Đúng mười hai giờ đêm, Nhược Ninh chia bảng thành bốn cột: Y tế của mẹ, Chi tiêu chung căn nhà cũ, N/ợ cá nhân của Gia Ngôn, Tiền học vấn của Nhược Ninh.
Gia Ngôn nhìn cô lập cột cuối cùng, bỗng hỏi: "Chị thực sự còn muốn đi học không?"
Tay Nhược Ninh khựng lại.
Cô từng nghĩ rất rõ ràng. Sau đó lại nghĩ quá lâu, sự rõ ràng bỗng trở thành một thứ xa xỉ.
"Chị không biết," cô nói.
Sau đó, cô nhìn vào khoản tiền bị giấu suốt bảy năm ấy, lần đầu tiên bồi thêm một câu: "Nhưng dù có biết hay không, thì đó cũng nên là việc do chính chị quyết định."
Cô tìm lại hồ sơ lương của mình bảy năm trước. Lúc đó cô mới vào công ty, lương không cao, nhưng từ tháng thứ hai đã bắt đầu gửi cố định năm nghìn về nhà. Mẹ chưa bao giờ ép cô, chỉ nói mỗi khi nhận được tiền: "Nhà vẫn ổn, con cứ giữ lấy mà dùng". Nhược Ninh luôn coi câu nói đó là khách sáo, nên vẫn cứ chuyển đều đặn.
Giờ nhìn lại, có lẽ mẹ thực sự có tiền, chỉ là không muốn cho cô biết có bao nhiêu; có lẽ là muốn để lại đường lui cho cô, có lẽ là không muốn thừa nhận gia đình chưa đến mức túng quẫn đến độ con gái phải từ bỏ cao học. Những khả năng đó trộn lẫn vào nhau, khiến Nhược Ninh lần đầu tiên có một cách hiểu khác về quyết định của mình năm xưa.
Cô không hoàn toàn bị ép buộc.
Cô cũng sợ phải rời đi. Sợ học xong không tìm được công việc tốt hơn, sợ sức khỏe mẹ yếu đi, sợ Gia Ngôn lại gây n/ợ, sợ mình một khi đi xa sẽ trở thành kẻ "chỉ biết nghĩ cho bản thân".
Phát hiện này khiến cô thấy khó chịu hơn cả việc biết tiền tiết kiệm bị giấu.
Gia Ngôn thấy cô im lặng hồi lâu, hỏi: "Có phải chị hối h/ận rồi không?"
Nhược Ninh lắc đầu: "Chị không hối h/ận vì đã không đi. Chị tức gi/ận vì lúc đó không ai cho chị biết tình hình đầy đủ, ngay cả bản thân chị cũng không biết."
Cô ghi ngày nhận giấy báo nhập học năm đó lên đầu bảng, bên cạnh ghi chú: Tiền học vấn đã tồn tại.
Dòng chữ đó như một chiếc đinh, cố định những ký ức mơ hồ suốt bao năm qua thành một sự thật không thể dùng lý do "lúc đó gia đình thực sự không còn cách nào khác" để lấp li/ếm.
Cô vẫn nhớ câu mẹ hay nói nhất: "Con là chị, giống như nửa người mẹ vậy". Nhược Ninh trước đây coi đó là lời khen, cho đến tận hôm nay mới nghe ra sức nặng thực sự trong đó - một người còn chưa trưởng thành, cũng chưa từng lựa chọn làm mẹ của ai, lại bị yêu cầu phải chăm sóc em trai theo tiêu chuẩn của một người mẹ.