Tôi đã dành cả buổi sáng để tìm ki/ếm dấu vết của bác Đặng.
Sổ hộ tịch không có tên ông, sổ thuê sạp ở chợ không có tên ông, ngay cả căn chòi ông đã ở suốt hai mươi năm cũng biến thành một kho công cộng chứa lưới đá/nh cá. Chỉ có cuốn danh sách cũ ở tầng thấp nhất của tháp Hồi Triều – nơi người giữ tháp không được phép cho mượn – là còn một khoảng trống bạc màu, như thể mặt giấy từng chịu đựng mực in, rồi sau đó bị thứ gì đó hút mất.
Đư Trừng đặt tấm chì đó lên bàn tôi.
"Chì không thay đổi," cô ấy nói, "đ/á bazan ở rạn san hô phía Đông cũng vậy. Tiếng chuông chỉ có thể đẩy một ngày trên đảo lùi lại, không chạm tới đáy biển được."
"Thế nên cậu mới nhớ."
"Có lẽ," cô ấy ngước nhìn tôi, "Cũng có thể vì lúc đó tôi vốn không nằm trong dòng thời gian của đảo."
Chúng tôi yêu nhau hai năm, cô ấy rất ít khi nói chuyện với tôi bằng tông giọng này.
Lần đầu tiên cô ấy tỏ tình với tôi cũng là ở rạn san hô phía Đông. Khi đó cô ấy nói, rủi ro lớn nhất khi ở bên tôi không phải là biển cả, mà là tôi quá quen với việc dọn dẹp hậu quả cho người khác. Lúc ấy tôi coi đó là lời nói đùa, còn hứa rằng sau này mọi quyết định quan trọng đều sẽ hỏi ý cô ấy trước. Giờ đây tôi mới nhận ra, vào lúc nguy cấp thực sự, thứ tôi vứt bỏ đầu tiên chính là lời hứa đó.
Tôi nhớ lại trước khi chuông vang, tôi thậm chí còn không x/ác nhận xem khu phố thấp đã rút bao nhiêu người, cũng không hỏi xem ai sẵn sàng gánh chịu cái giá chưa biết. Tôi chỉ vì không thấy Đư Trừng đâu nên đã biến nỗi sợ hãi thành mệnh lệnh.
Ý nghĩ này khiến tôi không dám nhìn cô ấy.
Cô ấy rất ít khi nói chuyện với tôi bằng tông giọng này. Không phải là gi/ận dữ, mà giống như cô ấy tự lùi lại một bước, để tránh việc tôi lại thay cô ấy đưa ra quyết định.
Tôi muốn nói rằng tôi không chọn bác Đặng, và tiếng chuông cũng không cho tôi quyền lựa chọn. Nhưng lời vừa đến cửa miệng lại càng khó nghe hơn. Bởi lẽ không thể chọn, không có nghĩa là cái giá phải trả không tồn tại.
Buổi chiều, tôi đi kiểm tra tường chắn sóng vịnh Tây. Vết nứt tối qua vẫn chưa xuất hiện, nhưng tôi biết nó sẽ vỡ ở đâu trước. Tôi yêu cầu đội đảo vụ phong tỏa lỗ thoát nước sớm hơn, rồi chuyển bao cát đến khu phố thấp. Đảo vụ trưởng hỏi tại sao tôi đột ngột đổi phương án, tôi chỉ có thể nói sổ ghi chép thủy triều có thể đã sai.
Đư Trừng thì xuống nước đo đạc lại rạn san hô phía Đông.
Chạng vạng, cô ấy mang về tin tức bất thường thứ hai: bên cạnh bệ đỡ tháp chuông dưới đáy biển có một vết nứt mới, chiều rộng lớn hơn hai ngón tay so với những gì cô ấy thấy "ngày hôm qua". Nghĩa là, các công trình trên đảo đã bị tiếng chuông đẩy lùi lại, nhưng đáy đảo thì không.
"Biển đang dâng lên, hay đảo đang chìm xuống?" tôi hỏi.
"Hiện tại chưa phân biệt được," cô ấy nói, "Nhưng lần tới không được đá/nh chuông nữa."
Tôi gật đầu.
Đêm đó chúng tôi ngủ trong tháp. Đư Trừng dựa vào tường, quay lưng về phía thang lên chuông. Khi tôi đưa tay chạm vào vai cô ấy, cô ấy không né tránh, chỉ nói: "Cậu có biết tôi sợ nhất điều gì không?"
Tôi tưởng cô ấy định nói về việc mất tích.
"Tôi sợ cậu sẽ coi mỗi con người như một bài toán có thể làm lại."
Câu nói đó còn đ/au hơn cả sự trách móc.
Ngày hôm sau, mọi sự chuẩn bị đều hoàn tất đúng theo khung giờ tôi nhớ. Tường chắn sóng không nứt ra vào lúc chạng vạng, khu chợ cũng được sơ tán sớm. Lần đầu tiên tôi cảm thấy chúng tôi thực sự có thể sửa chữa ngày hôm đó mà không cần phải đá/nh chuông.
Cho đến chín giờ tối, phía sườn núi phía Bắc truyền đến tiếng n/ổ lớn.
Không phải vịnh Tây, mà là tầng đ/á bên dưới bể chứa nước đã sụp đổ. Nước núi trộn lẫn bùn đ/á ập vào hai con hẻm, ba hộ gia đình bị mắc kẹt. Khi tôi chạy đến sườn núi, tôi thấy Đư Trừng đã thắt dây thừng, chuẩn bị xuống c/ứu người.
"Đừng đá/nh chuông," cô ấy nói với tôi trong mưa.
Tôi cắn răng gật đầu.
Chúng tôi c/ứu được hộ đầu tiên, rồi kéo được đứa trẻ của hộ thứ hai ra ngoài. Thế nhưng mái nhà của hộ thứ ba lại sụp xuống ngay trước mắt chúng tôi.
Bên trong là bà đỡ duy nhất trên đảo và đứa cháu ngoại vừa đầy tháng của bà.
Tôi nghe thấy chính mình nói: "Chỉ một lần này thôi."
Đư Trừng chộp lấy cổ tay tôi.
"Giang Đường, cậu không biết người tiếp theo sẽ là ai đâu."
"Nhưng tôi biết hai người này bây giờ sẽ ch*t."
Câu nói này khiến cả hai chúng tôi đều nghẹn lời.
Nửa canh giờ sau, tôi đứng lại trên đỉnh tháp.
Trước khi tôi lên tháp, Đư Trừng ở lại trong mưa. Cô ấy không đi theo vào.
Tôi đứng trước dùi chuông rất lâu, bên tai toàn là tiếng khóc của đứa trẻ dưới mái nhà đổ sụp. Trên bìa cuốn sổ giữ tháp có những vết móng tay của cha để lại, tôi chợt nhớ ra ông chưa bao giờ chịu nói mình đã đá/nh chuông bao nhiêu lần trong đời. Trước đây tôi cứ ngỡ đó là sự cô đ/ộc của người giữ tháp, giờ mới hiểu, có lẽ đó cũng là sự hổ thẹn.
Khi đặt tay lên dùi chuông, tôi viết trước vào sổ một câu: "Nếu ngày mai thiếu vắng một người, trách nhiệm thuộc về tôi."
Câu nói đó tất nhiên không c/ứu được bất kỳ ai.
Nhưng tôi cần có một thứ gì đó không thể cùng với thế giới giả vờ như chưa từng có chuyện gì xảy ra.
Khi tiếng chuông thứ hai vang lên, tôi không nhắm mắt.
Trong khoảnh khắc thế giới đảo ngược, tôi thấy Đư Trừng đứng trong mưa ngoài tháp, ngước nhìn tôi. Cô ấy không ngăn cản tôi nữa.
Nhưng cô ấy cũng không tha thứ cho tôi.
Trước khi buổi sớm thứ hai đến, tôi vẫn ngồi trên đỉnh tháp, không ngủ.
Tôi biết sau khi tỉnh dậy, một ai đó sẽ bị đào xới ra khỏi cuộc sống của tất cả mọi người, và chỉ có tôi cùng Đư Trừng biết rằng cái hố đó vốn dĩ từng có một cái tên.
Điều đ/áng s/ợ nhất là, tôi vẫn hy vọng người bị lấy đi lần này không phải là người tôi quen biết.
Khi nhận ra điều đó, tôi mới hiểu tiếng chuông không chỉ thay đổi thời gian.
Nó còn đang từng chút một làm tha hóa cách tôi cân đo giá trị của sự sống.