Tiếng chuông thứ ba vang lên không phải vì biển cả.
Mà là vì tôi.
Sau khi tìm thấy sợi xích đồng, tôi khăng khăng đòi tháo tấm ván chặn ở chân tháp vào đợt triều thấp tới. Tôi tin rằng chỉ cần làm rõ cơ quan, có thể tắt bỏ sự ảnh hưởng của chuông đối với đáy đảo. Đư Trừng phản đối, cô ấy nói khung đỡ đã lỏng lẻo, ít nhất phải đợi thợ đ/á và đội lặn cùng đá/nh giá.
Tôi không đợi.
Thói quen tồi tệ nhất của người giữ tháp chính là coi việc biết một nửa sự thật là đã biết đủ.
Khi tấm ván chặn được tháo ra, bên dưới lộ ra một cái giếng thẳng đứng, nước biển lên xuống trong giếng như thể đang hít thở. Sợi xích đồng từ trục chuông chìm sâu vào làn nước đen ngòm. Tôi vừa hạ đèn thăm dò xuống, vách giếng đã vang lên tiếng nứt vỡ.
Cả tòa tháp sụt xuống phía Đông một tấc.
Vết nứt trên tường ngoài đồng thời lan đến cao nguyên trung tâm.
Khi tôi chạy ra ngoài, mặt đất như bị thứ gì đó đẩy tung từ bên dưới. Hai nhà kho cũ nơi cư dân khu phố thấp đang trú ẩn bắt đầu nghiêng ngả, mọi người hét lên chạy ra ngoài. Đư Trừng nhìn thấy tôi ở phía bên kia quảng trường, sắc mặt trắng bệch như muối.
Cô ấy không hỏi có phải tôi đã động vào cơ quan hay không.
Cô ấy chỉ hét: "C/ứu người trước!"
Chúng tôi kéo được phần lớn mọi người ra ngoài, nhưng thanh xà nhà cuối cùng đã kẹt mất ba người già. Vết nứt trên mặt đất vẫn đang lan rộng, mỗi khi thân tháp vang lên một tiếng cọ xát trầm đục, quảng trường lại lún xuống một chút.
Tôi biết nếu không đá/nh chuông, họ sẽ ch*t.
Càng biết rõ tai họa lần này là do tôi gây ra.
"Đừng," Đư Trừng túm lấy cổ áo tôi, "Cậu đá/nh lúc này không phải là c/ứu người, mà là muốn xóa đi lỗi lầm của bản thân."
Câu nói đó đá/nh trúng vào nơi mà tôi không dám nhìn thẳng nhất.
Tôi vẫn đẩy cô ấy ra, lao lên tháp.
Khi chạy trên cầu thang xoắn ốc, mỗi bước chân tôi đều biết Đư Trừng nói đúng. Chính vì biết, tôi mới chạy nhanh hơn. Chỉ cần chuông vang lên, tấm ván chặn sẽ trở lại, nhà kho sẽ đứng thẳng, ba cụ già sẽ sống lại vào buổi sáng hôm qua, tôi sẽ không phải ở lại thế giới này để thừa nhận mình đã gây ra chuyện gì vì không chịu nghe lời khuyên.
Đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy sự ích kỷ của bản thân rõ ràng đến thế, nhưng vẫn chọn nó.
Gió trên đỉnh tháp thổi dây chuông đ/ập vào tường. Khi nắm lấy dùi chuông, tôi thậm chí đã nghĩ, nếu người bị lấy đi đúng là tôi, thì cũng coi như công bằng.
Nhưng chuông chưa bao giờ tính toán theo đạo đức con người.
Nó chỉ thu n/ợ.
Tôi vẫn đẩy cô ấy ra, lao lên tháp.
Khi tiếng chuông thứ ba vang lên, tôi đã khóc.
Thế giới lùi lại buổi sáng hôm trước, nhà kho khôi phục, vết nứt thu lại, tấm ván chặn cũng trở về vị trí cũ. Chỉ có ký ức của tôi là không.
Việc đầu tiên tôi làm không phải là tìm người mất tích mới, mà là ngồi trên bậc thang tháp nôn mửa.
Khi Đư Trừng từ biển trở về, trên tấm chì trong tay có thêm cái tên thứ ba: Trần A Hạnh.
Bà ấy là em gái của bà lão thợ đ/á.
Bà thợ đ/á hôm nay sống một mình trong căn nhà lớn, bức ảnh hai chị em trên tường giờ chỉ còn lại bà. Bà không hiểu tại sao trong tủ lại có hai đôi ủng cùng kích cỡ.
Tôi đứng trước cửa, không dám nói cho bà biết.
Trên đường về tháp, Đư Trừng không nói lời nào.
Cuối cùng là tôi lên tiếng trước: "Cậu nói đúng."
"Câu nào?"
"Tôi đá/nh chuông, là vì tôi không chịu nổi việc ba người đó ch*t trong lỗi lầm của tôi."
Cô ấy dừng bước.
"Nếu cái giá phải trả là tôi thì sao?" cô ấy hỏi.
Tôi đáp ngay lập tức: "Không được."
"Vậy nếu là cậu?"
"Cũng không được."
"Thế nên cậu biết vấn đề nằm ở đâu rồi đấy," cô ấy nhìn tôi, "Không phải ai đáng giá hơn ai, mà là cậu vốn dĩ không có quyền rút thăm thay bất kỳ ai."
Tôi không thể ngẩng đầu lên.
Cô ấy đưa tay chạm nhẹ vào mu bàn tay tôi, không nắm lấy.
Cái chạm khẽ đó ngược lại khiến tôi càng khó chịu hơn.
Cuối cùng tôi đã hiểu, tôi cứ luôn nói mình đang c/ứu đảo, thực chất mỗi lần đá/nh chuông, tôi đều đang yêu cầu một người lạ gánh chịu cái giá cho sự "không được phép thất bại" của mình.
Sau vòng thứ ba, tôi khóa dùi chuông vào tủ sắt dưới tháp, chìa khóa chia làm ba phần do đảo vụ trưởng, Đư Trừng và tôi mỗi người giữ một phần.
Trừ khi cả ba đồng ý, không ai được phép đá/nh nữa.
Đây là lần đầu tiên tôi chia nhỏ quyền lực của người giữ tháp.
Cũng là lần đầu tiên thừa nhận, tôi không xứng đáng nhận được sự tin tưởng vô hạn.
Đêm đó, Đư Trừng không về tháp ngủ.
Cô ấy ở lại phòng thiết bị của đội lặn, tôi cũng không đi tìm cô ấy.
Không phải vì chúng tôi chia tay, mà vì tôi đã hiểu ra "xin lỗi" không thể dùng để yêu cầu đối phương ở lại ngay lập tức.
Tôi ngồi một mình bên cạnh tủ sắt dùi chuông, khắc lại ba cái tên lên một tấm chì mới. Khi khắc đến tên Trần A Hạnh, mũi d/ao trượt một cái, cứa đ/ứt ngón trỏ.
Giọt m/áu rơi trên chì, nhanh chóng bị tôi lau đi.
Tôi chợt nghĩ, nếu có một ngày tên tôi cũng bị chuông lấy đi, liệu Đư Trừng có chỉ còn lại một món đồ không biết thuộc về ai, một chiếc giường trống không, một thói quen không thể giải thích.
Lần đầu tiên tôi không dám nghĩ "hy sinh bản thân" là cao thượng.
Bởi vì người ở lại, cũng phải sống thay cho lựa chọn đó.
Sáng hôm sau, Đư Trừng về tháp lấy bình khí.
Chúng tôi đứng cách nhau qua giá thiết bị rất lâu.
Tôi không hỏi cô ấy tối nay có về không, chỉ nói: "Việc khảo sát đáy biển do cậu quyết định, tôi sẽ không tự ý tháo dỡ bất cứ thứ gì nữa."
Cô ấy gật đầu.
Đó không phải là làm hòa.
Nhưng đó là lần đầu tiên chúng tôi xây dựng lại một sự tin tưởng có thể thực thi được sau tiếng chuông thứ ba.