Sự thật về rạn san hô phía Đông nằm ở độ sâu mười tám mét dưới mực nước biển.
Ngày Đư Trừng đưa tôi xuống đó, thời tiết lặng đến mức bất thường. Tôi không hay lặn, cô ấy buộc sợi dây dự phòng vào giữa hai chúng tôi, cứ vài phút lại ngoái đầu kiểm tra xem tôi còn đó không.
Sợi xích đồng xuyên qua bệ tháp, kéo dài đến một rãnh đ/á hình vòng cung khổng lồ. Mặt trong của rãnh đ/á dày đặc những vết lõm, mỗi vết lõm đều tương ứng với một lần đá/nh chuông. Còn lớp nền đáy biển phía ngoài cùng như bị gọt mất một tầng, toàn bộ tầng đ/á gốc thấp hơn so với bên ngoài đảo.
Đư Trừng chiếu đèn xuống đáy rãnh đ/á.
Ở đó khắc dòng thề cổ xưa nhất của người giữ tháp, trước đây tôi chỉ từng đọc thấy nửa câu đầu trong các bản thảo tàn khuyết: Mượn ngày hôm qua để c/ứu lấy ngày hôm nay.
Dưới những đám rong biển, nửa câu sau vẫn còn đó.
-- Dùng tương lai của mọi người để trả n/ợ.
Tôi nhìn chằm chằm vào tám chữ đó, trong màng nhĩ chỉ còn lại tiếng thở của chính mình.
Sâu xuống dưới nữa là một khe nứt kéo dài dọc theo nền móng của đảo. Cạnh mỗi vết khắc của chuông, khe nứt lại có thêm một vết c/ắt được đào sâu nhân tạo. Tháp chuông không phải đang chống lại sự chìm xuống, mà là mỗi lần hồi quy, nó lại tiện thể mượn luôn "tương lai" của hòn đảo mang đi. Con người bị rút mất một đoạn tương lai, hòn đảo cũng bị rút mất một phần sự vững chãi.
Sau khi ngoi lên mặt nước, tôi ngồi ở đuôi thuyền rất lâu.
"Vậy nên không phải thiên tai," tôi nói.
Đư Trừng tháo kính lặn ra. "Ít nhất thì không chỉ có thiên tai."
Cha, ông nội, và những người giữ tháp trước đó nữa, có lẽ mỗi lần đều tưởng rằng mình chỉ vừa c/ứu vãn một trận tai họa. Họ không biết, hoặc không muốn biết, tất cả những cái giá phải trả bị trì hoãn đều chồng chất dưới đáy đảo.
Còn việc vỡ đê ở vịnh Tây ngay đêm đầu tiên không phải là ngẫu nhiên.
Mà là món n/ợ cuối cùng đã đuổi kịp.
Chúng tôi in rập những vết khắc dưới đáy biển lên vải không thấm nước, rồi mang theo cả danh sách mất tích của ba vòng đá/nh chuông trở về. Bằng chứng vẫn chưa hoàn thiện, vì ngoài chúng tôi ra, không ai nhớ đến những cái tên đó. Nhưng bà lão thợ đ/á nhận ra lời thề cũ, và đảo vụ trưởng cũng không thể phủ nhận mực nước thủy triều mỗi vòng đều dâng cao.
Buổi tối, tôi lật đến trang cuối cùng của cuốn sổ ghi chép thủy triều mà cha để lại trên đỉnh tháp.
Trong kẹp sách có một tờ giấy tôi chưa từng thấy bao giờ.
Chữ của cha chỉ viết hai dòng: "Nếu con nhìn thấy vạch triều tầng thứ bảy, đừng c/ứu đảo nữa. Hãy đưa mọi người rời đi."
Tay tôi run không ngừng.
Năm cha viết tờ giấy đó chính là một năm trước khi tôi tiếp quản công việc giữ tháp. Khi ấy ông đã b/ệnh đến mức không thể leo lên tầng thứ bảy, nhưng vẫn bắt tôi học thuộc vạch triều mỗi ngày. Tôi từng hỏi tại sao bậc đ/á tầng thứ bảy vĩnh viễn không được để tạp vật, ông chỉ nói: "Đó là ranh giới cuối cùng."
Hóa ra ông không phải đang nói về mực nước.
Ông đang nói về lựa chọn.
Nếu thủy triều đã dâng đến mức đó, việc người giữ tháp thực sự nên làm không phải là đá/nh chuông lần nữa, mà là thừa nhận hòn đảo đã không còn xứng đáng để duy trì nguyên trạng bằng tương lai của thêm bất kỳ ai nữa.
Tay tôi run không ngừng.
Đư Trừng ngồi xuống bên cạnh tôi.
"Ông ấy biết."
"Ông ấy ít nhất đã biết kết cục cuối cùng sẽ thế nào."
"Cậu có trách ông ấy không?"
Tôi nghĩ rất lâu.
"Tôi sợ mình sẽ trở thành ông ấy hơn."
Giấu đi một lời thực sự quan trọng cho đến khi ch*t đi, để người kế tiếp phải gánh vác một mình.
Đư Trừng tựa vào, vai chạm vào vai tôi.
"Vậy thì đừng gánh vác một mình."
Tôi quay đầu nhìn cô ấy.
Trong vài vòng lặp vừa qua, chúng tôi rất ít khi gần gũi như trước. Không phải tình cảm đã mất đi, mà là mỗi tiếng chuông đều khiến câu "tớ sẽ bảo vệ cậu" trở nên đáng ngờ.
Tôi hỏi: "Nếu cuối cùng chỉ có thể phá hủy tòa tháp, hòn đảo sẽ thực sự không quay về được nữa."
"Ừm."
"Cậu có nỡ không?"
Cô ấy nhìn về phía bến cảng. Mái nhà ở khu phố thấp vẫn còn vết muối, những con tàu đá/nh cá chen chúc nhau trong khu neo đậu tạm thời.
"Không nỡ," cô ấy nói, "Thế nhưng không nỡ, không có nghĩa là có thể dùng ngày mai của người khác để m/ua lấy."
Tôi tựa đầu vào vai cô ấy.
Đêm đó chúng tôi không nói về mãi mãi.
Chỉ nói về sáng ngày mai, làm sao để toàn bộ người trên đảo biết rằng, phép màu thực chất luôn luôn tính lãi.
Chúng tôi quyết định không nói việc "cha đã biết" như một bằng chứng.
Một tờ giấy người ch*t để lại quá dễ để tin, mà cũng quá dễ để bị nghi ngờ. Đư Trừng kiên quyết rằng mọi nội dung công khai đều phải chia làm ba loại: vạch triều có thể tận mắt nhìn thấy, khe nứt có thể đo đạc lặp lại dưới đáy biển, và ký ức về sự mất tích chỉ có chúng tôi làm chứng.
"Đừng vì mọi người cần một câu chuyện trọn vẹn mà biến suy đoán thành sự thật," cô ấy nói.
Tôi cười đầy cay đắng.
"Cậu đang dạy người giữ tháp cách không làm thần thánh sao?"
"Đúng," cô ấy nói, "Học phí rất đắt."
Tôi biết cô ấy đang ám chỉ ba người đã mất đi tương lai.
Sau ngày đó, khoảng cách giữa chúng tôi không đột nhiên biến mất.
Nhưng tôi bắt đầu tin rằng, hàn gắn một mối qu/an h/ệ cũng giống như sửa chữa hòn đảo, không thể dựa vào việc làm lại từ đầu.
Chỉ có thể chấp nhận những vết nứt vẫn còn đó, từng chút một quyết định xem sẽ bước đi về đâu.
Chúng tôi chụp ảnh lưu lại tờ giấy của cha, còn bản gốc thì giao cho sảnh đảo vụ niêm phong.
Trước đây tôi sẽ khóa nó lại trong tháp, vì đồ của người giữ tháp lẽ ra phải do người giữ tháp bảo quản.
Lần này, tôi chủ động để nó rời khỏi tay mình.
Nếu sự thật chỉ có thể dựa vào việc tôi có muốn nói hay không, thì nó vẫn chỉ là một loại chuông khác mà thôi.