Khi chúng tôi công bố danh sách mất tích lần đầu tiên, không ai tin cả.
Phòng họp của sảnh đảo vụ chật kín cư dân. Tôi viết ba cái tên Đặng bá, Lâm Tự và Trần A Hạnh lên bảng đen, bên dưới có người cười cợt, hỏi tôi có phải vì tháp nứt nên mới bịa chuyện để trốn tránh trách nhiệm không.
Bà lão thợ đ/á là người đứng lên đầu tiên.
Bà nói mình không nhận ra cái tên Trần A Hạnh, nhưng trong nhà bà có hai đôi ủng đi mưa, hai chiếc chén uống trà bị mòn vẹt y hệt nhau, và một căn phòng mà bà luôn không nhớ được là để dành cho ai. Nói đến nửa chừng, giọng bà bỗng lạc đi.
Tiếng cười ngưng bặt.
Đư Trừng đặt tấm chì lên bàn, giải thích rằng các vật thể dưới đáy biển không bị ảnh hưởng bởi việc hồi triều. Cô ấy không biến suy luận của mình thành sự thật, chỉ để mọi người nhìn xem vạch triều và khe nứt nền đảo đã thay đổi thế nào sau mỗi vòng lặp.
Đảo vụ trưởng là người cuối cùng lên tiếng: "Vậy các cô muốn chúng tôi làm gì?"
Tôi nói: "Sơ tán."
Cả căn phòng họp bùng n/ổ ngay lập tức.
Có người hỏi nhà cửa tính sao, có người hỏi về mồ mả tổ tiên, có người hỏi rời đảo rồi ai sẽ tiếp nhận chúng tôi. Lại có người chỉ tay vào tôi nói, nếu chuông có thể c/ứu lại ngày hôm qua, tại sao không đá/nh thêm lần nữa để tranh thủ một ngày dọn nhà.
Câu nói đó khiến sống lưng tôi lạnh toát.
Bởi vì tôi cũng từng nghĩ như vậy.
Chỉ cần đá/nh thêm một lần nữa, chúng ta sẽ có thêm hai mươi bốn giờ để sắp xếp đội tàu, mang theo lương thực, tháo dỡ thiết bị quan trọng. Cái giá phải trả vẫn chỉ là một người không biết tên.
"Không được," Đư Trừng nói trước.
Có người đáp lại cô ấy: "Mất một người vẫn tốt hơn là cả đảo cùng ch*t."
Tôi nhìn thấy chính mình trong ba vòng lặp trước cũng đã tính toán như thế.
Tôi đứng dậy, đặt ba mảnh chìa khóa tháp chuông lên bàn.
"Ba lần trước đều là do tôi đá/nh. Tiếng chuông đầu tiên tôi không biết cái giá phải trả là gì, tiếng thứ hai tôi biết sẽ có người mất đi, tiếng thứ ba là vì tôi phạm sai lầm. Tôi không có tư cách yêu cầu mọi người tha thứ, cũng không thể dùng câu 'tôi từng c/ứu các người' để biện hộ cho mình."
Căn phòng im phăng phắc.
"Nhưng từ giờ trở đi, bất cứ ai nếu chủ trương đá/nh chuông lần nữa, xin hãy viết tên mình ra trước -- không phải viết tên người khác, mà là viết tên chính mình. Ai sẵn sàng để ngày mai của mình bị lấy đi, thì hãy đến bàn xem có đáng hay không."
Không ai cử động.
Ông chủ nhà trọ cầm bút lên rồi lại đặt xuống. Ông nói không phải không muốn hy sinh vì gia đình, chỉ là không biết làm sao để quay về nói với con cái rằng: "Mẹ đã thay mặt cả đảo đồng ý rằng mình có thể biến mất."
Một ngư dân trẻ nói, nếu chuông thực sự có thể chọn người tình nguyện, cậu ta sẵn lòng; bà lão thợ đ/á lập tức m/ắng cậu ta, bảo rằng nhà cậu ta còn hai đứa nhỏ, ai cho phép cậu ta thay con cái quyết định việc có nên mất đi người cha hay không.
Cuộc tranh luận ngày càng gay gắt.
Tôi không ngăn cản.
Các cuộc họp giữ tháp trước đây luôn yêu cầu sự nhanh chóng, trật tự và mệnh lệnh cuối cùng từ một người. Lần này, tôi lần đầu tiên để sự hỗn lo/ạn ở lại trong phòng, bởi vì mỗi câu nói mâu thuẫn lẫn nhau đều gần với quyết định chung thực sự hơn là một tiếng chuông.
Không ai cử động.
Tôi biết, đây không phải là một chế độ công bằng. Chuông căn bản sẽ không chọn người tình nguyện. Thế nhưng khoảnh khắc đó, mọi người cuối cùng đã nhìn thấy "một con người" không phải là một con số.
Cuộc họp cuối cùng thông qua kế hoạch sơ tán ba ngày, nhưng không phải là đồng thuận tuyệt đối.
Chúng tôi chỉ có ba ngày.
Ngày đầu tiên, tình trạng biển vẫn cho phép tàu lớn cập cảng; ngày thứ hai, phố trung tâm có thể bị ngập nước; sau ngày thứ ba, nếu nền tháp tiếp tục lún, luồng hàng hải phía Nam sẽ bị đ/á ngầm c/ắt đ/ứt.
Buổi tối, tôi và Đư Trừng sắp xếp vị trí tàu.
Cô ấy đột nhiên hỏi: "Nếu cuối cùng mọi người đổi ý thì sao?"
"Tôi sẽ phá hủy chuông đến mức không thể vang lên được nữa."
Cô ấy nhìn tôi.
"Cậu thực sự quyết định rồi sao?"
Tôi gật đầu.
Phá hủy tháp Hồi Triều đồng nghĩa với việc phá hủy đường lui cuối cùng của đảo Triều Ẩn. Tương lai nếu còn bão tố, hỏa hoạn, dị/ch bệ/nh, chúng ta sẽ không còn ngày hôm qua nào để mượn nữa.
Đư Trừng im lặng rất lâu, đặt con d/ao lặn của cô ấy vào tay tôi.
"Vậy tôi cùng cậu."
Tôi đẩy con d/ao lại.
"Không phải cùng tôi phá hủy, mà là cùng tôi để mọi người nhìn thấy chúng ta đang phá hủy cái gì."
Cô ấy cười khẽ, vẻ mặt vô cùng mệt mỏi.
"Được."
Đêm đó, lần đầu tiên chúng tôi nói về tình yêu mà không giống như đang bảo vệ nhau.
Mà giống như cùng gánh vác một việc mà cả hai đều có thể sẽ hối h/ận.
Danh sách sơ tán kéo dài đến tận khuya.
Tôi kiên quyết để mỗi hộ gia đình tự chọn ba món đồ muốn mang theo nhất, thay vì quy định thống nhất từ sảnh đảo vụ. Có người chọn bài vị tổ tiên, có người chọn lưới đá/nh cá, có người chỉ chọn sách giáo khoa của con.
Đư Trừng hỏi tại sao tôi lại tốn thời gian làm việc này.
Tôi nói: "Bởi vì rời đi không phải cứ đưa người đi là xong."
Cô ấy nhìn tôi một lúc rồi gật đầu.
Tôi biết chúng tôi đều đang học cùng một việc: dù kết quả không thể làm hài lòng tất cả mọi người, cũng không được vì thời gian gấp rút mà coi lựa chọn của người khác là bước có thể lược bỏ.
Tôi còn viết cách bảo quản ba mảnh chìa khóa dùi chuông vào thông báo sơ tán công khai, để mọi người biết ai có thể mở, cần bao nhiêu người đồng ý.
Có người cười bảo rằng đã chuẩn bị chạy trốn rồi còn quản lý quy trình làm gì.
Tôi nói, chính vì khi sợ hãi dễ giao quyền lực vào tay một người nhất, nên bây giờ mới phải viết cho rõ ràng.
Đư Trừng ở bên cạnh nhìn tôi, ánh mắt lần đầu tiên thả lỏng như lúc chúng tôi mới yêu nhau.