Ngày sơ tán thứ hai, thủy triều dâng sớm hơn dự đoán hai mươi sáu phút.
Tại cầu tàu phía Nam vẫn còn hơn hai trăm người chưa kịp lên tàu, nước trong cống thoát nước ở phố trung tâm đã bắt đầu trào ngược. Đảo vụ trưởng đứng dưới chân tháp, sắc mặt tái nhợt đến mức gần như xám xịt.
"đá/nh thêm lần nữa đi," ông ấy nói.
Tôi không trả lời.
Ông ấy đặt mảnh chìa khóa của mình lên bàn. "Chỉ một lần thôi. Thêm một ngày nữa là có thể đưa hết người già và vật tư ra ngoài."
Đư Trừng cũng ở đó.
Cô ấy không nhìn tôi, chỉ nhìn mực nước đang dâng cao ngoài cửa sổ.
Lần này, việc phản đối trở nên khó khăn hơn bất cứ lúc nào hết. Bởi vì chúng tôi không còn sửa chữa sai lầm của tôi, cũng không phải để c/ứu vài người trước mắt. Thêm một ngày thực sự có thể giúp việc sơ tán an toàn hơn.
Tôi hỏi đảo vụ trưởng: "Nếu người mất đi là con gái ông thì sao?"
Môi ông ấy r/un r/ẩy.
"Nếu người mất đi là Đư Trừng thì sao?" ông ấy hỏi ngược lại.
Lồng ngựk tôi như bị ai đó bóp nghẹt.
Cuối cùng Đư Trừng cũng quay sang nhìn tôi.
Cô ấy không nói là đừng đá/nh.
Cô ấy chỉ hỏi: "Cậu muốn kiểu ngày mai nào?"
Câu nói đó khiến tôi chợt hiểu ra, thử thách thực sự của vòng lặp này không phải là liệu tôi có chịu đựng được việc mất cô ấy hay không, mà là liệu tôi có còn lấy "bảo vệ người mình yêu nhất" làm cái cớ để hy sinh người khác hay không.
Tôi bước đến trước tủ sắt dưới chân tháp.
Ba mảnh chìa khóa vốn phải ghép thành hình răng c/ưa hoàn chỉnh mới có thể mở khóa dùi chuông. Mảnh của tôi nằm trong lòng bàn tay, cạnh của nó đã bị mồ hôi cọ xát đến nóng rực.
Tôi nhớ đến chính mình trong đêm đầu tiên. Nếu lúc đó có ai đó cư/ớp lấy dùi chuông, chắc chắn tôi sẽ c/ăm h/ận người đó, vì tôi tận mắt chứng kiến đảo chìm, chứng kiến Đư Trừng mất liên lạc, bất kỳ sự hạn chế nào cũng đều tà/n nh/ẫn.
Giờ đây tôi mới hiểu, ranh giới có giá trị chính là vì nó phải tồn tại ngay cả khi ta khao khát vượt qua nó nhất.
Tôi không còn hỏi ai có thể giữ ý chí của mình nữa.
Tôi ném mảnh chìa khóa của mình xuống giếng nước dưới chân tháp.
Tiếng kim loại rơi xuống nước rất khẽ.
Đảo vụ trưởng sững sờ.
"Cậu đi/ên rồi à?"
"Giờ thiếu một đoạn rồi, chuông không mở được nữa đâu."
Đây là lần đầu tiên tôi làm một việc không thể đảo ngược.
Chúng tôi chuyển sang thay đổi trình tự sơ tán: bỏ lại phần lớn hàng hóa, đưa những người đi lại được lên nền tảng tạm thời ở sườn núi phía Bắc trước, người già và trẻ em lên thuyền nhỏ, tàu cá không chở đồ đạc nữa mà chỉ chở người. Có người vừa khóc vừa m/ắng tôi, bảo đó là cái tủ bà nội để lại, là mô hình tàu của cha, là của hồi môn của mấy thế hệ.
Tôi chỉ có thể lặp đi lặp lại lời xin lỗi.
Không phải mọi sự mất mát đều có thể hợp lý hóa.
Buổi chiều, con tàu lớn đầu tiên rời đảo. Con tàu thứ hai phải dừng ở cảng ngoài vì sóng quá cao. Tôi và Đư Trừng theo thuyền c/ứu hộ vận chuyển người qua lại cho đến khi trời tối hẳn.
Khi chuyến cuối cùng rời phố trung tâm, nước đã ngập đến đầu gối tôi.
Một bà lão nắm lấy tôi hỏi: "Tháp vẫn còn đó, tại sao không đá/nh chuông?"
Tôi nhìn bà.
"Bởi vì cháu không thể thay mặt một người mà cháu không biết tên để đồng ý được nữa."
Bà khóc rồi buông tay.
Câu nói đó không làm bà dễ chịu hơn, cũng chẳng làm tôi nhẹ lòng.
Trong đêm, chúng tôi tạm lánh lên tầng ba của tháp. Đư Trừng băng bó vết thương do mảnh gỗ cứa trên tay tôi.
"Hôm nay cậu mất đi những gì?" cô ấy hỏi.
"Rất nhiều người sẽ h/ận tôi."
"Còn gì nữa không?"
Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ. Khu phố thấp giờ chỉ còn lại những mái nhà.
"Tôi mất đi cái tôi từng cho rằng có thể làm lại mọi thứ."
Đư Trừng ngước nhìn.
Tôi nói: "Trước đây chỉ cần còn đá/nh được chuông, tôi đều cảm thấy mình chưa thực sự làm sai điều gì."
Cô ấy thắt nút băng.
"Còn bây giờ thì sao?"
"Bây giờ làm sai rồi, thì chỉ có thể tiến về phía trước để chịu trách nhiệm."
Cô ấy nắm lấy tay tôi.
Lần này tôi không hiểu nó là sự an ủi.
Tôi hiểu đó là việc cả hai chúng tôi vẫn đang ở trong ngày mai.
Đêm muộn, từ cửa sổ tháp, tôi nhìn thấy vài con tàu chở đầy cư dân đang di chuyển ra khơi.
Ánh đèn tàu xa dần.
Đó không phải là hình ảnh của chiến thắng. Sau mỗi ánh đèn đều là những người buộc phải từ bỏ nhà cửa, cửa tiệm, mồ mả tổ tiên và bờ biển thân thuộc, mà những tổn thất này lại có liên quan mật thiết đến việc đá/nh chuông suốt nhiều năm của gia tộc tôi.
Đư Trừng đứng cạnh tôi.
"Sẽ có người cả đời không tha thứ cho cậu."
"Tôi biết."
"Cậu còn trụ được không?"
Tôi suy nghĩ một chút.
"Không cần phải trụ đến mức như không có chuyện gì. Tôi có thể đ/au lòng."
Cô ấy cười nhẹ.
Câu nói này rất nhỏ, nhưng lại như kéo tôi ra khỏi cái vỏ bọc của người giữ tháp một bước.
Tôi không cần sự tha thứ của toàn bộ người trên đảo để chứng minh quyết định hôm nay là xứng đáng.
Chúng tôi tính lại số chỗ ngồi trên hai con thuyền nhỏ cuối cùng ba lần.
Những vị trí vốn để dành cho thùng hàng đều được tháo dỡ, thiết bị lặn chỉ mang theo bộ cơ bản nhất, ngay cả rương giữ tháp của tôi cũng bị bỏ lại. Trong đó có bộ quân phục cũ của cha và những con dấu của các đời trước.
Tôi đứng trước cái rương do dự hồi lâu.
Cuối cùng chỉ lấy đi tấm chì ghi danh sách mất tích.
Có những thứ đại diện cho thân phận, có những thứ đại diện cho trách nhiệm.
Đến khi thực sự cần lựa chọn, cuối cùng tôi cũng phân biệt được.
Trước khi rời chân tháp, tôi nhìn lại tủ sắt dùi chuông lần cuối. Sau khi thiếu một đoạn chìa khóa, nó vẫn nguyên vẹn, thậm chí còn bình thản hơn bất kỳ ai.
Tôi chợt hiểu ra, thứ thực sự nguy hiểm chưa bao giờ là một món đồ.
Mà là chúng ta quá tin rằng chỉ cần có nó, thì không cần phải học cách chịu đựng những điều không thể c/ứu vãn.