Sau khi tháp sụp đổ, đảo Triều Ẩn chẳng còn phép màu nào nữa.
Ngày thứ tư, cao nguyên trung tâm bắt đầu ngập nước. Ngày thứ năm, luồng hàng hải phía Nam bị phong tỏa. Ngày thứ sáu, chúng tôi chỉ có thể dùng thuyền nhỏ để chở những vật tư cuối cùng rời đi.
Ai cũng biết, không thể quay về đảo được nữa.
Chúng tôi tạm trú tại một khu tái định cư được cải tạo từ một xưởng muối bỏ hoang ngoài khơi. Mái nhà lộng gió, các phòng ngăn bằng ván gỗ, vài hộ gia đình dùng chung một nhà bếp. Có người ngày nào cũng hỏi bao giờ được về đảo, tôi không thể trả lời.
Danh sách mất tích được tôi treo ở lối vào khu tái định cư.
Đặng bá, Lâm Tự, Trần A Hạnh.
Chỉ có ba cái tên.
Nhưng tôi biết sau mỗi cái tên đều là một đoạn tương lai bị lấy mất: Đặng bá có lẽ còn có thể ngồi ở chợ thêm mười năm, Lâm Tự có lẽ một ngày nào đó sẽ tự mở xưởng tàu, Trần A Hạnh có lẽ sẽ già đi cùng chị gái mình.
Từng có lúc tôi muốn viết một bài tiểu sử trọn vẹn cho mỗi người mất tích, như thể chỉ cần bù đắp cuộc đời họ chi tiết đến mức nào đó, thì có thể trả n/ợ được.
Đư Trừng ngăn tôi lại.
"Cậu lại đang thay họ đưa ra quyết định rồi."
Tôi sững người.
Cô ấy chỉ vào mục của Đặng bá. "Cậu biết ông ấy thích gừng ngọt, biết ông ấy c/ụt nửa ngón út, những cái đó có thể viết. Cậu không biết ông ấy có sống được đến tám mươi hay không, không biết Lâm Tự có mở xưởng tàu hay không, thì đừng thay họ sắp đặt một tương lai đẹp đẽ."
Tôi im lặng rất lâu, gạch bỏ những chữ "có lẽ" mà mình đã viết.
Tôi không thể thay họ suy nghĩ hết được.
Đó cũng là một hình thức chiếm đoạt khác.
Đư Trừng tập hợp tất cả hai mươi ba vết khắc chuông cũ tìm thấy dưới đáy biển thành một cuốn sách, nhờ những dân đảo nào sẵn lòng cùng ghi chép bổ sung những món đồ "thừa ra mà không biết thuộc về ai" trong nhà mình. Có người mang đến đôi bát đôi, có người tìm thấy đôi giày trẻ em vô chủ, có người nói trong nhà luôn có một chiếc giường trống.
Chúng tôi không thể tìm lại những người đã bị xóa sổ.
Nhưng ít nhất, không còn giả vờ như họ chưa từng tồn tại.
Tôi từ chức người giữ tháp. Thực ra, tháp cũng chẳng còn, thì cũng chẳng có chức vụ gì để giữ.
Đảo vụ trưởng hỏi tôi sau này định làm gì.
Tôi nói không biết.
Ba chữ này trước đây từng khiến tôi sợ hãi. Người giữ tháp từ khi sinh ra đã biết mình phải đứng ở đâu, lúc nào đá/nh chuông, lúc nào ghi chép thủy triều. Giờ đây ngày mai của tôi bỗng nhiên không có chức danh, cũng chẳng có tòa tháp nào.
Buổi tối, Đư Trừng đưa tôi ra đê chắn sóng ngoài xưởng muối.
Cô ấy nói đội khảo sát đại dương ở đảo ngoài sẵn lòng thuê cô ấy, cũng hỏi tôi có thể làm công việc ghi chép thủy triều không.
"Tôi không muốn cậu vì tôi mà ở lại," tôi nói.
"Tôi cũng đâu phải vì cậu mới nhận," cô ấy cười nhẹ, "Lương cao hơn mà."
Tôi không nhịn được mà mỉm cười.
Gió rất lạnh, cô ấy kéo khóa áo khoác lên đến tận cằm.
"Vậy còn chúng ta?" tôi hỏi.
"Chúng ta làm sao?"
"Còn tính là đang ở bên nhau không?"
Cô ấy không trả lời ngay.
Điều này rất giống cô ấy. Những việc quan trọng không bao giờ vì muốn làm tôi an tâm mà vội vàng nói đồng ý.
"Tôi vẫn yêu cậu," cô ấy nói, "Nhưng tôi không muốn quay lại mối qu/an h/ệ cũ, kiểu như cậu nói 'tôi sẽ xử lý', rồi tôi thực sự giao mọi quyết định cho cậu."
Tôi gật đầu.
"Tôi cũng không muốn."
Cô ấy đưa tay về phía tôi.
"Vậy bắt đầu từ ngày mai cùng đi xem ký túc xá nhé."
Tôi nắm lấy tay cô ấy.
Không có mãi mãi, không có sự đảm bảo.
Chỉ có một ngày mai thực sự thuộc về chúng tôi, và cũng có thể thay đổi.
Vài tuần sau, nhóm cư dân cuối cùng chuyển khỏi xưởng muối tạm thời, phân tán đến các cảng thị khác nhau. Đảo Triều Ẩn chỉ còn nửa đoạn đỉnh tháp lộ ra trên mặt biển xa xa, như một chiếc răng bị g/ãy.
Rất nhiều người vẫn h/ận tôi.
Cũng có người trước khi rời đi đã vỗ vai tôi.
Tôi không còn phân biệt được kiểu nào mới tính là tha thứ.
Bởi vì chúng ta cuối cùng cũng đã dừng việc dùng tương lai của người khác để đổi lấy sự hài lòng của tất cả mọi người về ngày hôm qua.
Khi khu tái định cư mở cuộc họp cư dân lần đầu tiên, không ai mời tôi chủ trì.
Tôi ngồi ở hàng ghế thứ ba, giơ tay phát biểu như bao người khác.
Sự bình thường này khiến tôi an tâm đến lạ.
Cuộc họp thảo luận xem khu định cư mới có nên đặt tên đường theo tên đảo cũ hay không. Có người muốn giữ lại, có người nói đừng giả vờ như có thể sao chép quê hương. Cuối cùng họ quyết định chỉ giữ lại tên cảng, các con đường khác đều đặt tên mới.
Tôi không bỏ phiếu chống, cũng không cảm thấy mình nên đưa ra lời khuyên.
Quê hương đã mất một lần rồi.
Chúng ta không cần phải dùng những hình thức y hệt để c/ứu nó trở lại nữa.
Sau đó tôi có đi tìm bà lão thợ đ/á.
Bà chuyển đến phía Đông cùng của khu tái định cư, trên bậu cửa sổ vẫn đặt hai chiếc chén giống hệt nhau.
Bà nói mình vẫn không nhớ ra Trần A Hạnh, nhưng giờ biết chiếc chén đó không phải là thừa, nên không muốn vứt đi nữa.
"Không nhớ thì vẫn có thể nhung nhớ sao?" tôi hỏi.
Bà suy nghĩ một lúc.
"Có lẽ điều ta nhung nhớ chính là cái chỗ trống đó."
Tôi viết câu nói này vào trang đầu tiên của cuốn sổ ghi chép.
Có những sự mất mát không thể phục hồi, nhưng vẫn xứng đáng được thừa nhận.
Cuốn sổ ghi chép không ghi ba lần đá/nh chuông của tôi là "sự hy sinh cần thiết".
Theo yêu cầu của tôi, hồ sơ chỉ ghi lại thời gian, nguyên nhân, hậu quả đã biết, và những lựa chọn khác có thể có lúc bấy giờ.
Tôi không muốn thế hệ sau dùng một câu "cô ấy cũng vì mọi người thôi" để kết thúc cuộc thảo luận.
Thiện ý có thể giải thích cho lựa chọn, nhưng không thể xóa bỏ những tổn thương mà lựa chọn đó gây ra.