Chương 3: Nó nhớ một con đường mà tôi chưa từng đi qua
Sau lần gặp đầu tiên, Mumu về nhà ngủ một mạch suốt hai tiếng đồng hồ.
Khi tỉnh dậy, nó ăn uống bình thường, không bị tiêu chảy, cũng không còn đứng canh cửa nữa. Theo bảng quan sát của tôi, điều này có nghĩa là cuộc tiếp xúc không gây ra áp lực rõ rệt nào. Thế nhưng, tôi lại mong nó có chút bất ổn để tôi có lý do dừng lại.
Lần gặp thứ hai, tôi đổi địa điểm sang khu chợ cũ gần nơi em gái tôi thường dắt nó đi dạo.
Khi nhìn thấy ngã rẽ, Nhược Sầm lại nói: “Trước đây không phải đường này.”
Tôi lập tức trở nên lạnh nhạt: “Cô thậm chí còn không biết nó sống ở đâu sau đó, tất nhiên không phải rồi.”
Cô ấy không phản bác, chỉ hỏi liệu có thể để Mumu tự chọn hướng đi hay không.
Tôi đổi dây dắt co giãn thành loại có độ dài cố định, thả lỏng cổ tay để Mumu dừng lại ở ngã ba. Nó ngửi mặt đất vài cái rồi đi ngược hướng với con sông. Đó không phải là lộ trình đi dạo ghi trong sổ tay của em gái tôi.
Nhược Sầm đi theo phía sau nửa bước, tuyệt nhiên không dẫn đường.
Mumu đi xuyên qua hai con hẻm, dừng lại trước một tiệm giặt ủi đã đóng cửa, rồi lại tiếp tục tiến về phía trước, cuối cùng dừng chân trước một tòa chung cư cũ đã được sơn sửa lại. Ngoài hiên có ba bậc thang thấp, Mumu đứng ở bậc thứ hai, nhất quyết không chịu đi tiếp.
Nhịp thở của Nhược Sầm trở nên rất nhẹ.
“Trước đây tôi sống ở đây.” Cô ấy nói.
Tôi không đáp.
Mumu ngồi xuống, ngẩng đầu nhìn ban công tầng hai. Khoảnh khắc đó, tôi chợt nhớ đến dáng vẻ nó canh giữ ở tiền sảnh lúc 6 giờ 40 phút mỗi ngày. Nhược Sầm kể với tôi, giờ tan làm của cô trước đây rất cố định, thường về đến nhà lúc 6 giờ rưỡi; Mumu sẽ đợi sẵn bên cửa, nghe thấy tiếng cô tra chìa khóa vào cửa sắt mới đứng dậy.
“Còn khẩu lệnh gõ lên đùi hai cái thì sao?” Tôi hỏi.
“Bảo nó ngồi xuống trước, đừng lao ra cửa. Hồi nhỏ nó rất hay chạy nhảy.”
“Tại sao em gái tôi chưa bao giờ viết điều đó?”
“Có lẽ cô ấy không biết nguồn gốc, chỉ biết nó làm được.”
Câu nói này đ/âm trúng vào lòng tôi.
Tôi luôn coi em gái mình là điểm khởi đầu cho toàn bộ lịch sử của Mumu, cứ như thể trước khi em ấy c/ứu nó, nó chỉ là một con vật bị thương không tên tuổi. Thế nhưng Mumu đứng trước tòa chung cư đó, cơ thể nó còn rõ ràng hơn bất kỳ văn bản nào.
Trên đường về, Nhược Sầm đề cập đến một việc mà tôi không hề dự tính trước.
“Nơi tôi ở hiện tại có thể nuôi chó, nhưng tôi không muốn đón nó về ngay.” Cô ấy nói, “Nếu cô đồng ý, tôi muốn thực hiện thăm hỏi cố định trong hai tuần, rồi thử một đêm, từ từ xem sao.”
“Cô không vội à?”
“Tôi đã tìm nó suốt hai năm, tất nhiên là vội. Nhưng vội là việc của tôi.”
Tôi nhìn cô ấy.
Cô ấy bồi thêm một câu: “Nó không phải là vật thay thế cho hai năm đó của tôi.”
Câu nói này giống như có người đã nói thay tôi lời mà tôi giấu kín sâu nhất.
Sau khi về nhà, tôi bê toàn bộ hộp chăm sóc của em gái ra phòng khách. Bên trong có túi th/uốc, dây dắt, đồ chơi cũ và ba cuốn sổ tay mỏng. Tôi vẫn luôn chỉ xem cuốn cuối cùng, vì cuốn đó ghi chép đầy đủ nhất.
Hai cuốn đầu kẹp đầy những hóa đơn và bản sao áp phích tìm chủ.
Mặt sau của một tờ giấy có nét chữ của em gái: Chip đã đọc được, nhưng số điện thoại đăng ký đã ngừng hoạt động; đã tìm chủ trên ba hội nhóm; tạm thời chưa làm thủ tục chuyển nhượng.
Tôi nhìn chằm chằm vào năm chữ “tạm thời chưa làm thủ tục chuyển nhượng”, lòng bàn tay dần lạnh đi.
Mumu nằm sấp bên cạnh thùng giấy, mũi tiến lại gần ngửi. Tôi lật tờ giấy sang mặt khác, cứ như thể chỉ cần không nhìn thấy thì ý nghĩa có thể thay đổi.
Nhưng trang tiếp theo lại ghi chép rõ ràng hơn: Nếu tìm thấy chủ cũ, trước tiên x/ác nhận nơi ở, y tế và khả năng chăm sóc ổn định, sau đó mới thảo luận việc bàn giao, không vì mình không nỡ mà giữ lại.
Đó là chữ của em gái tôi.
Tôi lại lật đến mặt sau của một túi th/uốc, trên đó viết Mumu sẽ co vai trước một số giọng nam, gặp chó lớn phải giữ khoảng cách, không được vì nó “trông ngoan” mà ép nó giao tiếp. Em gái tôi viết những điều này rất tỉ mỉ, nhưng chưa bao giờ viết “nó thuộc về tôi”.
Tôi chợt nhớ lần cuối cùng trước khi mất, khi em ấy đưa Mumu đến nhà tôi, đã dặn dò kỹ: “Nếu có người đến tìm, đừng vội ồn ào, phải kiểm tra trước.” Lúc đó tôi chỉ cảm thấy em ấy bị b/ệnh nghề nghiệp, còn nói làm gì có ai tìm lâu như vậy mới đến. Em ấy không tranh cãi với tôi, chỉ nhét túi th/uốc vào tủ lạnh.
Giờ đây, mỗi cử chỉ nhỏ bé mà tôi từng bỏ qua đều mang một ý nghĩa mới.
Không phải ai khác thay em ấy giải thích.
Tôi ngồi trên sàn nhà rất lâu.
Hóa ra ngay từ đầu, em ấy đã không coi Mumu là kỷ vật để lại cho tôi.
Tôi mới chính là người sau khi em ấy qu/a đ/ời, đã lén lút viết lại từ “nuôi tạm” thành “thứ duy nhất còn sót lại”.
Khi tôi đặt cuốn sổ tay đầu tiên vào lại trong hộp, Mumu đột nhiên đứng dậy đi uống nước, uống xong lại đặt đầu lên đầu gối tôi. Nó không vì tôi biết sự thật mà yêu tôi ít đi.
Việc này ngược lại càng khó khăn hơn.
Nếu tình yêu chưa bao giờ là câu hỏi trắc nghiệm một đáp án, thì tôi không thể dùng lý do “nó cũng cần tôi” để né tránh bước tiếp theo được nữa.
Tôi ghi thời gian gặp mặt lần tới vào lịch, bên cạnh lần đầu tiên không ghi chú “hủy nếu cần”.
Đây không phải là đồng ý giao Mumu đi.
Mà chỉ là đồng ý để câu trả lời tiếp tục tiến về phía trước.