Chương 4: Thứ em gái để lại không phải là một con chó, mà là một cuộc bàn giao chưa hoàn tất
Tôi đã dành cả đêm để sắp xếp ba cuốn sổ tay của em gái theo trình tự thời gian.
Tuần đầu tiên sau khi c/ứu Mumu, em ấy ghi chép về vết thương và việc đi vệ sinh; tuần thứ hai bắt đầu ghi chú các nền tảng tìm chủ; đến tháng thứ ba thì viết: “Nếu lâu dài không có ai liên lạc, đá/nh giá việc chính thức chuyển nhượng”. Trước đây tôi chỉ nhìn thấy em ấy đã làm được bao nhiêu cho Mumu, mà không thấy bên cạnh mỗi trang đều để lại một cột: Tiến độ tìm ki/ếm của chủ cũ.
Điều khiến tôi đ/au lòng nhất là trang cuối cùng.
Bốn ngày trước khi qu/a đ/ời, em gái viết: Có người nghi là bạn của chủ cũ để lại lời nhắn, chờ x/ác nhận. Bên cạnh còn dán một bản in ảnh chụp màn hình, nhưng tên tài khoản đã bị em ấy dùng bút che đi, chỉ để lại ngày tháng.
Tôi kiểm tra bản sao lưu điện thoại mới phát hiện em gái từng gửi tin nhắn cho tôi, hỏi rằng: “Nếu cuối cùng Mumu tìm được chủ cũ, chị có nỡ không?”. Lúc đó tôi đang đi công tác, chỉ trả lời một câu: “Tìm được rồi hãy tính.”
Em ấy không hỏi thêm nữa.
Tôi chụp lại những tài liệu này nhưng không gửi ngay cho Nhược Sầm.
Trưa hôm đó, mẹ đến nhà tôi.
Bà mang theo một chiếc túi vải màu xanh mà em gái từng để ở nhà, nói rằng lúc dọn tủ thì tìm thấy. Tôi theo phản xạ không muốn nhận, mẹ liền đặt trực tiếp lên bàn.
“Chẳng phải con đã bảo mẹ đừng mang đồ của Tiểu Nhuế đến nữa sao?” Tôi hỏi.
“Đây không phải để lại làm kỷ niệm cho con.” Mẹ nói, “Bên trong là tài liệu của hội c/ứu trợ.”
Trong túi vải có áo khoác tình nguyện viên, th/uốc chống ký sinh trùng chưa dùng hết và vài tấm thẻ liên lạc viết tay. Dưới cùng là một bản bàn giao chăm sóc tạm thời chưa hoàn tất, tên chó ghi là Mumu, người chăm sóc tạm thời là em gái, người chăm sóc thay thế khẩn cấp là tôi.
Bốn chữ “người chăm sóc thay thế” khiến lồng ngựk tôi thắt lại.
Không phải người kế thừa.
Mẹ ngồi bên cạnh ghế sofa, không chạm vào Mumu. “Tiểu Nhuế lúc còn sống có nói với mẹ, nếu nó tìm được chủ thì phải trả lại. Con bé sợ con quá dễ dàng gánh vác trách nhiệm thành của riêng mình, nên không muốn làm phiền con quá nhiều.”
“Sao bây giờ mẹ mới nói?”
“Vì mẹ cũng ích kỷ.” Mẹ nhìn tôi, “Sau khi con bé ra đi, con sẵn sàng chăm sóc Mumu, mẹ cảm thấy ít nhất con còn một việc để làm mỗi khi thức dậy. Mẹ sợ nếu mang nó đi, con sẽ chẳng còn gì cả.”
Đây là lần đầu tiên kể từ khi em gái mất, tôi nghe thấy mẹ thừa nhận rằng bà cũng sợ hãi.
Chúng tôi im lặng rất lâu.
Mumu đi đến bên chân mẹ ngửi ngửi rồi nằm xuống. Mẹ đưa tay ra giữa chừng lại thu về, hỏi tôi: “Có thể chạm vào nó không?”
Tôi gật đầu.
Lúc đó bà mới khẽ chạm vào lưng Mumu.
Khoảnh khắc ấy, tôi chợt hiểu ra cả hai chúng tôi thực chất đều đang làm cùng một việc: Gửi gắm nỗi đ/au không dám đối diện cho một chú chó trông giữ.
Buổi chiều, tôi gửi ảnh sổ tay của em gái cho Nhược Sầm.
Cô ấy trả lời rất nhanh: Cảm ơn chị đã sẵn lòng cho tôi xem.
Không có câu “tôi đã bảo rồi mà”, cũng không hề thúc giục tôi bàn giao.
Tôi hỏi cô ấy: “Nếu cuối cùng Mumu không thích hợp để trở về chỗ cô thì sao?”
Nhược Sầm mất vài phút mới trả lời: “Vậy thì tôi chấp nhận. Tôi muốn đưa nó về nhà, nhưng điều kiện tiên quyết là điều đó phải tốt cho nó.”
Tôi nhìn chằm chằm vào câu nói đó, đột nhiên thấy hơi bực bội.
Nếu cô ấy ích kỷ hơn một chút, vội vã hơn một chút, thậm chí là ngang ngược hơn một chút, tôi đều dễ dàng coi cô ấy là kẻ th/ù hơn.
Nhưng cô ấy không làm vậy.
Cuối tuần, trong lần gặp thứ ba, tôi đề nghị được đi xem nơi ở hiện tại của cô ấy.
Cô ấy đồng ý.
Tôi cũng lần đầu tiên thay đổi câu hỏi của mình.
Tôi lập một bảng kiểm tra mới, không viết “độ tin cậy của chủ cũ” nữa, mà đổi thành những điều kiện Mumu thực sự cần hiện tại: Phục hồi chức năng cố định, hai lần đi dạo quãng ngắn mỗi ngày, tránh để ở nhà một mình quá lâu, có khả năng chi trả tiền th/uốc khớp mãn tính, chấp nhận nỗi sợ của nó với tiếng cửa cuốn và tiếng n/ổ, không vì tội lỗi mà bù đắp bằng quá nhiều đồ ăn vặt.
Đến cuối danh sách, tôi nhận ra chính mình cũng không đạt điểm tuyệt đối.
Gần đây vì chạy theo công việc, tôi đã ba lần rút ngắn thời gian đi dạo buổi tối; sau khi em gái mất, tôi từ chối đi công tác, nhìn thì như vì Mumu, nhưng thực ra cũng vì thế mà bỏ lỡ cơ hội thăng tiến. Việc Nhược Sầm có phù hợp hay không không thể so sánh bằng cách tưởng tượng tôi là người chăm sóc hoàn hảo duy nhất.
Tôi gửi bảng đó cho cô ấy, yêu cầu trả lời từng mục. Cô ấy không chê tôi khắt khe, mà ngược lại, bên cạnh mục “để ở nhà một mình quá lâu” đã ghi chú: Cần người chăm sóc dự phòng, chưa x/ác nhận.
Cái cụm từ “chưa x/ác nhận” đó khiến tôi lần đầu tiên tin rằng, cô ấy không phải trả lời để giành chiến thắng.
Không còn là “cô ấy có tư cách cư/ớp Mumu đi không” nữa.
Mà là “Mumu quay về bên cô ấy, liệu có thể sống ổn định hơn bây giờ không”.
Câu hỏi này cũng ép tôi phải nhìn lại chính mình.
Tôi liệt kê chi phí y tế của Mumu trong ba tháng gần nhất, thời gian đi dạo và số lần nhờ hàng xóm trông hộ khi tôi tăng ca. Những con số không khiến tôi trở nên không đủ tư cách, nhưng lại khiến câu nói “chỉ mình tôi có thể chăm sóc nó” mất đi cơ sở.
Sự so sánh công bằng thực sự không nằm ở việc ai ở bên nó lâu hơn.
Mà là ai sẵn sàng liên tục điều chỉnh cuộc sống để đáp ứng những nhu cầu hiện tại của nó.
Lần này, tôi để trống câu trả lời.