Tuần thứ sáu kể từ khi hồ bơi đóng cửa, khối lượng công việc của tôi chỉ còn một nửa so với trước, nhưng lại bận rộn hơn bao giờ hết. Tôi chạy xe giữa ba địa điểm tạm thời, trong giỏ xe luôn nhét đầy dây c/ứu hộ, thiết bị nổi và một xấp bảng đăng ký mượn sân bãi. Dì Châu cùng tám người cao tuổi khác cuối cùng được sắp xếp vào làn bơi buổi trưa tại một trung tâm phục hồi chức năng, chúng tôi cùng họ đàm phán mức giá nhóm; lớp trẻ em được chia thành hai nhóm, mỗi hai tuần mới có thể thực sự xuống nước một lần.
Không có sự sắp xếp nào thuận tiện như ở Thanh Mộc.
Nhưng mọi người vẫn ở lại.
Điều này dần thay đổi suy nghĩ của tôi về việc "giữ lấy hồ bơi". Hóa ra thứ thực sự cần được bảo vệ không chỉ là một địa chỉ, mà là quyền được trở lại mặt nước một cách an toàn của con người.
Cùng tuần đó, đơn vị tư vấn kỹ thuật bên thứ ba đã hoàn tất kiểm tra lại.
Kết quả tốt hơn chúng tôi dự đoán một chút, nhưng cũng tệ hơn một chút. Tin tốt là kết cấu hồ chính có thể giữ lại, không cần đ/ập bỏ hoàn toàn; tin x/ấu là phần nền móng phía ngoài vùng nước sâu cần phải xử lý đồng bộ, công trình mất ít nhất tám tháng, ngân sách vẫn cao đến mức đ/áng s/ợ. Nếu muốn giữ nguyên kích thước ban đầu, cộng đồng phải huy động vốn theo từng giai đoạn và xin trợ cấp cải tạo công trình công cộng.
Đây là lần đầu tiên ban quản trị thực sự thảo luận về việc "sửa chữa thế nào", thay vì "có thể giả vờ sử dụng tạm được không".
Thế nhưng Văn Khê lại nói với tôi rằng, thời hạn trả lời mẹ cô ấy chỉ còn ba ngày.
Chúng tôi ăn tối bên ngoài nhà thi đấu trường học. Tôi hỏi: "Cô quyết định chưa?"
Cô ấy lắc đầu.
"Chẳng phải cô rất giỏi lập bảng biểu sao?"
"Công việc thì được. Còn cuộc đời thì không hẳn."
Tôi mỉm cười, nhưng rồi nụ cười nhanh chóng vụt tắt.
Cô ấy nói, cơ hội từ những dự án lớn có lẽ vài năm mới có một lần. Trở về đồng nghĩa với thu nhập ổn định hơn, đội ngũ lớn hơn, nhưng cũng đồng nghĩa với việc cô ấy phải rời xa nơi này ít nhất một năm.
"Tôi không muốn cô ở lại vì tôi," tôi nói.
"Tôi biết."
"Cũng không muốn cô vì sợ tôi cảm thấy bị bỏ rơi mà không dám đi."
"Tôi cũng biết."
Cô ấy đặt đũa xuống. "Vậy em muốn gì?"
Câu hỏi lại quay về phía tôi.
Trước đây tôi sẽ nói "không sao đâu, cô quyết định là được", coi sự nhường nhịn là cách tránh né rủi ro. Nhưng chúng tôi vừa thống nhất sẽ không lược bớt những điều cần nói cho nhau nữa.
"Tôi muốn ở bên cô," tôi nói, "Nếu cô đi, tôi sẽ rất buồn. Tôi cũng không biết liệu yêu xa có trụ được một năm không. Nhưng tôi không muốn dùng câu 'tôi thế nào cũng được' để lừa cô."
Văn Khê nhìn tôi, rất lâu sau mới nói: "Cảm ơn em."
Đêm đó cô ấy không đưa ra quyết định.
Hôm sau, cộng đồng lại nảy sinh vấn đề mới. Việc xin trợ cấp yêu cầu một kế hoạch sử dụng hoàn chỉnh, chứng minh rằng sau khi sửa chữa, đây không chỉ là phúc lợi của cư dân, mà còn bao gồm giáo dục an toàn cho trẻ em, thủy trị liệu cho người cao tuổi và các khung giờ công cộng.
Chị Lương đẩy bảng biểu về phía tôi. "Cái này em là người rõ nhất."
Tôi chợt nhận ra, trước đây mình luôn coi bản thân là "người dạy học", nhưng khi thực sự cần bảo vệ hồ bơi, tôi lại phải làm rõ giá trị công cộng của nó.
Tôi dành hai ngày để làm lại chương trình học và khung giờ mở cửa, xóa bỏ những lời hứa hoa mỹ nhưng không thực hiện được, đưa cả nhân lực, bố trí c/ứu hộ, miễn giảm cho người yếu thế và diễn tập an toàn hàng năm vào đó.
Văn Khê không sửa nội dung giúp tôi, chỉ trả lời khi tôi hỏi về không gian kiến trúc.
Tối ngày thứ ba, cô ấy đưa cho tôi xem một lá thư.
Không phải thư chấp nhận lời mời của mẹ.
Mà là thư từ chối.
"Vì tôi sao?" tôi hỏi.
"Có em," cô ấy nói, "Nhưng không chỉ vì em."
Cô ấy quyết định ở lại đây thành lập studio nhỏ, nhận các dự án sửa chữa và không gian công cộng trước. Thu nhập có thể ít hơn nhiều, nguồn việc cũng không ổn định.
"Mẹ cô có gi/ận không?"
"Không. Bà chỉ trả lời tôi một câu: 'Vậy thì đừng quay về trách mẹ'."
Tôi không nhịn được cười. Văn Khê cũng cười.
Cả hai chúng tôi đều không có được một con đường dễ dàng hơn.
Nhưng ngày hôm đó, lần đầu tiên tôi tin rằng, lựa chọn đối phương không nhất thiết đồng nghĩa với việc từ bỏ chính mình.
Vấn đề thực sự là liệu chúng tôi có thể tự trả giá cho lựa chọn của mình hay không.
Sau khi cô ấy từ chối lời mời, Cố Tĩnh Lan đã gọi một cuộc điện thoại cho cô ấy. Tôi ngồi bên cạnh, chỉ nghe thấy Văn Khê nói: "Không phải cô ấy giữ con lại, mà là con quyết định ở lại." Lát sau cô ấy lại nói: "Nếu làm không tốt, con tự gánh vác." Sau khi cuộc gọi kết thúc, cô ấy úp điện thoại xuống bàn, rõ ràng là trút được gánh nặng. Tôi không hỏi mẹ cô ấy đã nói gì, vì đó là mối qu/an h/ệ của họ. Văn Khê lại chủ động nói với tôi: "Bà ấy nói, ít nhất lần này con đã nói được mình muốn gì."
Chúng tôi cũng chuyển vấn đề yêu xa vốn tưởng là nan giải thành một phiên bản thực tế hơn: nếu thu nhập khởi nghiệp của cô ấy không ổn định, chúng tôi không dùng chung tài khoản, không ràng buộc tiền thuê nhà; nếu tôi vì dạy thay mà phải chạy đôn chạy đáo, cô ấy không được lấy lịch trình của mình làm ưu tiên mặc định. Chúng tôi chưa sống cùng nhau, nhưng lần đầu tiên đã thỏa thuận được những ranh giới có thể thực hiện.
Danh sách ranh giới đó cuối cùng được tôi gấp gọn vào ví. Nó không giống thư tình, nhưng lại khiến tôi an tâm hơn bất kỳ bức thư nào. Bởi vì cuối cùng chúng tôi không còn chứng minh sự thân mật bằng cách đoán ý nhau, mà là sẵn sàng để đối phương biết, việc gì có thể làm, và việc gì không thể làm thay cho nhau.