Ngay khi phong bì giấy da bò được mở ra, Dĩ An không còn nói câu "chị không biết" nữa.
Chị ấy xuất toàn bộ hồ sơ chuyển khoản ra cho tôi xem. Lần đầu tiên là 12 ngày sau khi mẹ mất liên lạc, lần cuối cùng là hai tháng trước khi lệnh tuyên bố t/ử vo/ng có hiệu lực. Tài khoản gửi tiền thuộc về Trình Mạn Thanh, nhưng ghi chú chỉ vỏn vẹn hai chữ: "Chi hộ". Những con số không khớp hoàn toàn với số tiền xử lý trong danh mục ký gửi, rõ ràng là có sự chênh lệch về thời gian b/án và chi phí phát sinh.
"Sau khi tuyên bố t/ử vo/ng còn không?" Tôi hỏi.
"Không."
"Tại sao?"
"Trình Mạn Thanh nói, một khi tòa đã tuyên bố t/ử vo/ng, số tiền phía sau không thể xử lý theo dặn dò riêng của mẹ được nữa, mà phải nhập vào di sản."
Cột mốc thời gian này lại một lần nữa trùng khớp với ngày khắc trên chiếc nhẫn thứ ba.
Dĩ An cầm điện thoại, giọng khô khốc: "Lúc đó chị đã đi làm rồi, không cần bà ấy chi trả nữa."
"Chị có nói với người đại diện di sản về số tiền nhận được trước đó không?"
"Không."
Tôi đã đoán trước câu trả lời, nhưng khi nghe tận tai, dạ dày vẫn chùng xuống.
"Khi chia di sản, chị cũng không nói."
"Số tiền đó đã tiêu hết rồi."
"Tiêu hết và không tồn tại là hai chuyện khác nhau."
Chị ấy đột ngột ngẩng đầu: "Chị dùng nó để đóng học phí, chăm sóc bà ngoại, chứ không phải m/ua nhà m/ua xe. Năm bà ngoại nằm viện, bố hoàn toàn không xoay sở được tiền, là chị ứng trước. Lúc đó em mới thi lấy chứng chỉ giám định, mỗi tháng bản thân còn không đủ sống. Nếu chị nói với em tiền đó từ mẹ mà ra, em sẽ làm gì? Chắc chắn em sẽ đi tìm bà."
"Vậy là chị thay em quyết định những gì em được phép biết?"
"Đúng." Giọng chị ấy lớn hẳn lên: "Vì lúc đó chị thực sự thấy làm vậy an toàn hơn."
Tôi không phản bác ngay.
Đây chính là điều khiến người ta đ/au lòng nhất. Dĩ An không cầm tiền để tận hưởng bí mật, chị ấy thực sự đã thay gia đình chi trả những hóa đơn thực tế nhất. Lựa chọn của chị giúp chúng tôi trụ vững qua những ngày tháng nghèo túng, rối ren nhất, nhưng cũng khiến nhiều năm sau tôi mới biết, mẹ không hề ra đi mà không có sự sắp đặt nào.
Một vệt nước bất ngờ thấm qua góc cửa sổ. Mưa chảy dọc theo tường, tôi và Dĩ An lập tức di chuyển giấy tờ sang mặt bàn bên trong. Chiếc phong bì đựng danh mục quá giòn, tôi dùng khăn khô khách sạn Iót bên dưới rồi bọc lại vào túi chống ẩm. Làm xong những việc này, cả hai đều thở dốc.
Dĩ An đột nhiên nói: "Có phải em cảm thấy chị lừa em cả đời không?"
"Em cảm thấy chị đã thay nhiều người đưa ra quyết định, rồi gọi đó là bảo vệ."
Trên mặt chị lướt qua vẻ khó xử: "Trước đây em cũng vậy thôi. Bố muốn b/án dụng cụ của mẹ, chẳng phải em đã lén mang đi sao? Em đâu có hỏi chị."
Tôi sững người.
Bộ dụng cụ đó hiện vẫn ở trong xưởng của tôi. Tôi luôn nghĩ mình đang bảo tồn dấu vết chuyên môn mẹ để lại, chưa từng nghĩ Dĩ An cũng có quyền được quyết định.
Tôi bỗng nhiên không cười nổi nữa.
"Được." Tôi nói: "Chuyện đó coi như lỗi của em. Sau khi ra ngoài, bộ dụng cụ đó sẽ được liệt kê lại vào di sản."
Dĩ An nhìn tôi, như thể không ngờ tôi lại tiếp nhận nhanh đến thế.
"Nhưng những khoản hỗ trợ chị nhận cũng vậy." Tôi nói tiếp: "Không phải bắt chị nôn ra từng đồng học phí, mà là phải đặt nó vào cùng một bảng kê. Ai đã cầm gì, ai thay ai chi trả cái gì, không thể cứ dựa vào trí nhớ mà chọn lọc để kể nữa."
Chị ấy cúi đầu hồi lâu, cuối cùng khẽ gật.
Lúc này Từ Vỹ Thần gửi tới file xuất dữ liệu thẻ phòng mới. Ông tìm thấy ghi chú đăng ký của chiếc thẻ tạm thời năm 2014 trong sổ sách giấy cũ ở quầy lễ tân, chỉ có chữ cái đầu của họ viết tay, không rõ toàn tên, nhưng nét chữ khởi đầu giống chữ "Đường". Ông không dám khẳng định đó là Dĩ An, nhưng đã giữ lại ảnh gốc.
Bằng chứng không hoàn chỉnh này ngược lại càng khiến tôi chắc chắn rằng, chúng ta không thể chỉ dựa vào một tờ giấy nào đó để đẩy hết trách nhiệm cho ai.
Tôi nhìn lại ba món trang sức.
Ngày tháng trên món thứ nhất là lúc mẹ chủ động kết thúc thân phận công việc cũ.
Ngày tháng trên món thứ hai là lúc bà rời bỏ gia đình, cũng là lần cuối xuất hiện trước mặt Dĩ An.
Ngày tháng thứ ba vẫn còn thiếu mảnh ghép cuối cùng: Ngày tòa tuyên bố bà đã ch*t, rốt cuộc Trình Mạn Thanh đã làm gì trong căn phòng này.
Tôi lật lại ảnh chụp màn hình quản trị tài khoản cũ của mẹ. Sau ngày 16 tháng 11 năm 2014, tài khoản không còn ghi nhận đăng nhập từ thiết bị quen thuộc của bà; hai thao tác quản lý xuất hiện sau đó đều từ máy tính dùng chung ở xưởng. Nói cách khác, ít nhất là trong dấu vết kỹ thuật số mà chúng tôi có, bà không dùng lại thân phận chuyên môn cũ để xuất hiện.
Điều này không chứng minh được bà đi đâu, càng không chứng minh được sau đêm đó bà còn sống hay không. Nó chỉ làm ý nghĩa của ngày thứ hai trở nên rõ ràng hơn: Từ ngày đó, bà không chỉ rời nhà, mà còn ngừng sử dụng cách liên lạc mà chúng tôi biết.
Tôi bỗng hiểu tại sao bao năm nay mình cứ chấp niệm đi tìm một "ngày ch*t thực sự". Chỉ cần có một ngày, tôi có thể sắp xếp sự mất mát thành một việc đã hoàn tất. Nhưng giờ đây, ba món trang sức ép tôi phải thừa nhận rằng, sự ra đi của mẹ xảy ra theo từng giai đoạn.
Vết xước thứ ba sáng nhất trên khung cửa sổ, đang đợi chúng tôi trả lời.