Thẩm Tụ không vào nhà tôi. Cô ấy đứng ở cửa, tắt điện thoại rồi mới nói: “Đừng chụp màn hình, cũng đừng gửi đi đâu cả.”
Tôi tháo chốt an toàn, để cô ấy và Trình Chỉ Thanh vào. “Tôi làm hậu kỳ, không làm tin tức gi/ật gân. Cô nói trước đi, tờ phiếu này ở đâu ra.”
“Sau cánh cửa sân thượng.” Cô ấy đưa điện thoại cho tôi, “Hôm qua tôi chỉ chụp tấm này, bản gốc vẫn còn ở đó.”
Bức ảnh là phiếu bảo trì thang máy từ ba tháng trước. Ngày tháng, con dấu công ty, số điện thoại liên lạc đều bình thường, chỉ có mục vị trí hỏng hóc ghi là “Tầng chín gọi ngoài không phản hồi”. Tôi phóng to hình ảnh, nét chữ đậm đến mức gần như rạ/ch rá/ch mặt giấy.
“Ở đây chỉ có tám tầng.” Trình Chỉ Thanh nói.
“Nên tôi đã gọi điện hỏi thử.” Thẩm Tụ dựa vào mép bàn, giọng điệu bình thản, “Trong hệ thống của công ty, cùng tờ phiếu đó lại ghi là tầng tám. Nhân viên chăm sóc khách hàng đã đọc số phiếu để tôi đối chiếu, tờ giấy này ghi tầng chín không phải là nội dung trong hệ thống của họ.”
Tôi chép số phiếu, thời gian nhân viên trả lời và thời gian cô ấy chụp ảnh vào tệp tin. Bốn giờ hai mươi chín phút, cả ba người đều không ai đề nghị lập tức lên sân thượng. Đây không phải là điều có thể giải thích bằng sự ăn ý, tôi chỉ biết rằng không ai di chuyển cả.
Khương Hòa chạy đến lúc bốn giờ bốn mươi sáu phút, áo khoác cài lệch một khuy, trên tay quả nhiên xách theo sữa đậu nành. Vừa vào cửa, cô ấy đã nâng mặt tôi lên, ép tôi nhìn thẳng vào mình.
“Cậu có nhớ tớ là ai không?”
“Khương Hòa.”
“Lễ kỷ niệm trường cấp ba, chúng ta trốn đi đâu?”
“Sân thượng. Cậu giấu bánh kem, nến bị gió thổi tắt ba lần.”
“Tớ gh/ét nhất cái gì?”
Tôi buột miệng đáp: “Rau mùi.”
Tay cô ấy khựng lại giữa không trung. “Đó là cậu. Nếu tớ thấy ai cắm đũa vào bát cơm, tớ sẽ dẹp sạch cái bàn đó. Cậu từng cười tớ bao nhiêu lần rồi.”
Tôi ngẩn người vài giây. Chuyện này nghe rất quen, nhưng lại không tìm thấy bất kỳ hình ảnh cụ thể nào. Tôi nhớ mình từng cười cô ấy m/ê t/ín, thậm chí biết rằng đó không chỉ là một hai lần, nhưng tôi không nhớ nổi là cái bàn nào, có những ai, cũng không bắt được giọng nói của cô ấy lúc đó.
Tôi ghi lỗ hổng này vào tệp mới, đá/nh dấu thời gian đến từng phút, kèm theo một câu: Chỉ ghi lại nội dung có thể x/ác nhận, không tự bù đáp án cho những khoảng trắng.
Trình Chỉ Thanh trải lá thư đó lên bàn. “Trong ngăn kéo tôi còn vài lá nữa, đều là do tôi viết.” Cô ấy dùng đầu ngón tay gõ gõ vào góc giấy, “Lá nào cũng đang nói chuyện với cùng một “cậu” đó. Tôi nhận ra nét chữ của mình, cũng nhìn ra những câu đó không phải viết cho bạn bè bình thường, nhưng tôi không nhớ nổi cô ấy là ai.”
“Điều đ/áng s/ợ nhất không phải là quên.” Cô ấy nói tiếp, “Mà là ngay cả việc bây giờ mình có nên buồn hay không, tôi cũng chỉ có thể dựa vào những tờ giấy này để đoán.”
Thẩm Tụ kể tiếp về lỗ hổng của mình. Ngày cha cô ấy qu/a đ/ời, cô ấy nhớ mình đã đến b/ệnh viện, nhớ sảnh lớn, thang máy và máy b/án hàng tự động ngoài phòng b/ệnh, duy chỉ không có ký ức về bốn mươi phút từ nơi ở đến b/ệnh viện. Sau đó cô ấy tìm thấy camera hành trình và phát lại một lần.
Tôi hỏi: “Nghe thấy gì?”
“Tôi cứ nói chuyện với bố trên xe mãi.” Cô ấy dừng lại một chút, “Sau khi phát xong, đột nhiên tôi không thể nhớ nổi biểu cảm cuối cùng của ông khi nhìn tôi. Thế nên đoạn đó tôi không mở lại nữa.”
Khương Hòa lập tức nói: “Đừng nghe bất cứ âm thanh nào liên quan đến lỗ hổng nữa.”
Tôi ngẩng đầu. Câu nói đó của cô ấy nhanh đến mức gần như đ/è lên chữ cuối cùng của Thẩm Tụ.
“Tại sao cậu lại nghĩ ngay đến việc phát lại sẽ có ảnh hưởng?”
“Vì bây giờ bất kỳ kí/ch th/ích nào cũng có thể là vấn đề.” Nói xong, cô ấy dời tầm mắt sang màn hình của tôi.
Tôi nhớ trước đây mỗi khi bị tôi truy hỏi điều gì đó, Khương Hòa cũng từng vài lần nhìn sang chỗ khác. Nhưng đó chỉ là hành động tôi nhớ được, không thể chứng minh trực tiếp rằng lần này cô ấy đang che giấu điều gì. Tôi ghi điểm này vào tệp tin: Khương Hòa phản ứng quá nhanh với rủi ro âm thanh, nguyên nhân chưa rõ, cần x/ác nhận.
Cách làm này ngược lại khiến tôi bình tĩnh hơn đôi chút. Âm thanh có thể quên, phán đoán có thể sai, nhưng chỉ cần tôi tách biệt giữa “thứ nhìn thấy” và “thứ đoán được”, ít nhất tôi sẽ không tự tạo ra lớp ký ức giả thứ hai.
Tôi chồng các bản ghi âm bảy đêm lên nhau, cho ba người còn lại xem phổ tần. Đỉnh cao cuối cùng mỗi đêm đều rơi vào khoảng bốn giờ ba phút, dưới đáy còn một dải tần số thấp kéo dài, giống như dư chấn để lại sau khi một khoang rỗng lớn bị gõ vào.
Trình Chỉ Thanh chỉ vào màn hình: “Có khi nào là bể nước không?”
Tôi nhớ lại vị trí bể nước trên sân thượng, đúng là lệch ngay phía trên bàn làm việc của tôi.
Trời sáng, chúng tôi cùng đến cầu thang. Cửa sân thượng vẫn khóa, bên cạnh khung cửa dán tờ lịch bảo trì đã phai màu. Thẩm Tụ rút tờ phiếu bảo trì bằng giấy từ khe cửa ra, khớp với bức ảnh trong điện thoại. Tôi vừa định lại gần x/ác nhận giấy tờ thì thang máy sau lưng đột nhiên kêu “ting” một tiếng.
Không ai nhấn nút.
Hiển thị tầng nhảy từ số tám thành một ô trống. Cửa từ từ mở ra, bên trong không có ai, nhưng trên bảng điều khiển lại sáng lên một chiếc đèn vốn không tồn tại. Không có số, chỉ có một vết hằn hình vuông như bị mài mòn.
Trình Chỉ Thanh lùi lại một bước. Thẩm Tụ giơ tay chặn cửa thang máy, nói thẳng: “Đừng ai vào.”
Khương Hòa đứng tại chỗ, ánh mắt vẫn dán ch/ặt vào chiếc đèn không chữ đó. Tôi thấy mặt cô ấy trắng bệch, túi giấy đựng sữa đậu nành trong tay cũng bị bóp méo.
Tôi không coi những phản ứng này là đáp án, chỉ hỏi: “Cậu có từng thấy thứ gì tương tự không?”
Cô ấy nhắm mắt lại, khi mở ra vẫn nhìn vào thang máy.
Cửa bắt đầu đóng lại. Trước khi chiếc đèn không chữ tắt đi, cô ấy cuối cùng cũng nói: “Thứ tôi từng thấy không phải tầng này.”
Tôi chờ cô ấy nói tiếp.
“Là băng từ.” Cô ấy nói, “Ba tháng trước, có một thùng băng từ cũ được gửi đi từ tòa chung cư này, người nhận ghi là cậu.”