Khi Tạ Vân Thâm mang chiếc rương cũ của chị gái đến, bác gái họ Tạ cũng đi theo.
Bà không vào nhà, chỉ đứng ngoài ngưỡng cửa, nhìn tôi rồi nhìn chiếc rương gỗ nâu. "Vân Thâm nói con nhất định phải xem. Ta để nó mang đến, là vì không muốn hai đứa vì một bức tranh mà làm tổn thương tình cảm. Nhưng có những thứ là di vật của người đã khuất, đừng lục lọi quá mức."
Tôi hứa chỉ xem những mẫu vải và sổ sách liên quan đến Xuân Thủy Đồ, không đụng đến thư từ cá nhân hay quần áo.
Bà lại không rời đi, mà đặt tấm thiếp đỏ trở lại cạnh bàn. "Chọn đồ đệ là ngày kia, hôn kỳ là tháng sau. Nếu con làm ầm ĩ chuyện này ra ngoài, nhà họ Tạ cũng khó mà giả vờ như chưa có chuyện gì xảy ra."
Tôi biết bà đang nói gì.
Nếu tôi công khai nói Xuân Thủy Đồ không phải do một mình Tạ Vân Thâm làm, danh tiếng nhà họ Tạ sẽ khó coi; nếu tôi thừa nhận trong đó có mẫu cũ của người chị quá cố, bản thân tôi cũng chưa chắc giữ được tư cách tham tuyển. Đối với bà, cách vẹn toàn nhất vẫn là giao bức tranh cho Vân Thâm, để nhà họ Tạ đứng ra nhận toàn bộ công lao.
"Bác ạ," tôi nói, "sau khi con tra rõ ràng, là của ai thì sẽ ghi tên người đó."
Bà sa sầm mặt hỏi: "Người đã khuất cũng phải ghi sao?"
Tôi không lùi bước. "Nếu là của chị ấy, thì phải ghi."
Bà phất tay bỏ đi.
Sau khi rương gỗ mở ra, bên trong có bảy tám chiếc khăn cũ, vài cuốn sổ tàn và một gói chỉ lụa đã phai màu. Tôi nhanh chóng tìm thấy góc cành xanh mà hôm qua đã thấy trong giỏ tre. Đó là một chiếc khăn tay bị thiếu mất một nửa, mép khăn như bị c/ắt đi, họa tiết nhành hoa chỉ còn lại một nửa.
Tôi đặt nó cạnh bản thảo Xuân Thủy Đồ, cái nhìn đầu tiên đã thấy sự tương đồng, cái nhìn thứ hai lại phát hiện ra sự khác biệt.
Những cành hoa tôi bổ sung sau này trông thanh thoát hơn, hướng lá cũng đã sửa, nhưng kiểu bắt mũi kim "hai ngắn một dài" ở đ/ốt cành và độ nghiêng của đường chỉ áp lên mặt sau lá thì gần như giống hệt. Đó không phải là "trùng hợp", mà là một nguồn gốc kỹ thuật rõ ràng.
Tạ Vân Thâm đứng đối diện tôi, từ đầu đến cuối không nói lời nào.
Tôi hỏi: "Trước đây huynh từng thấy chiếc khăn này chưa?"
"Từng thấy."
"Lần đầu tiên tôi hỏi họa tiết nhành hoa này từ đâu ra, tại sao huynh chỉ nói là mẫu cũ trong nhà?"
Chàng im lặng rất lâu mới đáp: "Bởi vì mẹ luôn nói, mẫu tranh của chị chưa từng mang đi b/án, để lại trong nhà thì chính là của nhà. Sau này nàng sửa nhiều rồi, ta cũng cảm thấy... nó không còn là bức tranh ban đầu nữa."
Ngựk tôi trĩu nặng.
"Vậy ra huynh biết."
"Ta biết nửa đoạn đó giống của chị." Chàng ngước mắt lên, giọng hơi khàn, "Nhưng ta chưa từng nghĩ nàng sẽ dùng nó để tham tuyển, cũng không nghĩ nhà ta lại trực tiếp ghi tên ta vào."
"Giờ thì huynh nghĩ sao?"
Chàng không trả lời.
Khoảnh khắc đó tôi mới nhận ra, điều khiến tôi khó chịu nhất không phải là chàng không biết, mà là chàng luôn biết rất rõ, nhưng lại chọn cách im lặng.
Tôi lật mặt sau chiếc khăn tay. Ở mặt sau có một dòng chữ mực đã phai, chỉ còn lại bốn chữ "Vân Lan Thử Chi" (Vân Lan thử thêu cành). Đầu ngón tay tôi dừng lại ở đó, chợt nhớ đến việc bác gái họ Tạ hỏi có cần ghi tên người đã khuất hay không.
Đương nhiên là cần.
Người đã không còn, cái tên càng dễ bị người ta dùng hai chữ "của nhà" mà lướt qua.
Nhưng một câu hỏi khác lại nảy sinh: Nếu đoạn họa tiết nhành hoa này không phải của tôi, liệu tôi còn có thể coi toàn bộ bức Xuân Thủy Đồ là tác phẩm dự thi của mình không?
Tôi lấy bản thảo của mình ra, trải phẳng từng trang. Bản thảo nhành hoa đầu tiên chỉ có một nửa, là vẽ theo vết chỉ trên khung cũ; bản thứ hai tôi sửa hướng đi của cành; bản thứ ba phân chia lại lá; đến bản thứ tư mới thực sự hòa quyện với vân nước của Xuân Thủy.
Tôi không phải là không làm gì, nhưng tôi quả thực đã đứng trên điểm khởi đầu mà chị để lại.
"Tôi sẽ không dùng toàn bộ bức tranh để báo danh một mình mình." tôi nói.
Tạ Vân Thâm đột ngột ngẩng đầu. "Vậy nàng sẽ không còn gì để tham tuyển nữa."
"Tôi có thể mang bài thi vá vải hôm trước, hoặc nộp mẫu khác."
"Hai ngày làm sao kịp làm ra thứ gì đó ra h/ồn."
Chàng nói đúng.
Nếu tôi từ bỏ Xuân Thủy Đồ, suất vào xưởng thêu lớn gần như không còn duyên với tôi. Cái giá này lần đầu tiên trở nên cụ thể, không còn chỉ là lời nói suông "tôi không chiếm của người khác". Tôi thậm chí có thể hình dung ra cảnh mẹ thất vọng nhưng không nỡ trách m/ắng tôi vào ngày công bố kết quả.
Tôi cất chiếc khăn tàn vào túi vải sạch, không mang đi, chỉ nhờ Tạ Vân Thâm ghi rõ lên bản thảo: Đường kim nhành hoa xuất phát từ khăn cũ của Tạ Vân Lan.
Khi cầm bút, ngón tay chàng dừng lại trên mặt giấy rất lâu.
Cuối cùng, chàng vẫn viết.
Nét bút đó hạ xuống, tôi không cảm thấy chúng tôi đã làm hòa, thậm chí còn nhìn thấy rõ hơn những vết nứt giữa chúng tôi. Nhưng tôi cũng biết, những vết nứt nếu cứ dùng hôn kỳ để che đậy, sớm muộn gì cũng sẽ đ/ứt g/ãy ở nơi sâu hơn.
Đêm đó, tôi không đụng đến hỉ phục, chỉ chép lại một lần nữa nguồn gốc kỹ thuật của cả ba người.
Khi gói chiếc khăn tàn lại, tôi cố tình đặt bản thảo của mình bên cạnh. Hai thứ không ai lấn át ai. Khoảnh khắc đó tôi mới thực sự chấp nhận rằng, thừa nhận nguồn gốc không phải là tự làm mình nhỏ bé đi, mà là để những phần tôi đã làm trở nên rõ ràng hơn.