Sáng sớm một ngày trước kỳ tuyển chọn, tôi đến tiệm sổ sách cũ ở phía nam thành.
Chỉ nhuộm những năm đầu của nhà họ Tạ thường được ghi chép lẫn lộn với sổ m/ua sắm của nhà họ Thẩm, trong tay tôi chỉ có dòng ghi chú "Khăn thêu nhành hoa Vân Lan" thì chưa đủ để làm rõ ba tầng chỉ xanh của bức Xuân Thủy Đồ được tiếp nối như thế nào. Chưởng quầy tiệm sổ sách cũ họ La, thấy tôi ôm một chồng giấy cũ, chỉ hỏi một câu: "Tra tiền bạc, hay tra tay nghề?"
Tôi đáp: "Tra xem ai đã làm những gì."
Ông cười một tiếng, nói điều này còn khó hơn tra tiền bạc, bởi vì tiền bạc thì người ta sợ thiếu, còn tay nghề lại thường bị câu nói "đồ trong nhà làm" nuốt chửng.
Chưởng quầy La tìm giúp tôi tập ghi chép các đợt chỉ nhuộm của nhà họ Tạ ba năm trước. Đợt chỉ xanh đậm nhất quả nhiên không phải do Tạ Vân Thâm nhuộm, bên cạnh ghi chú: "Vân Lan thử màu, thanh đại ba lần ngâm, phèn xám một lần qua". Một năm sau đó, Tạ Vân Thâm tiếp quản xưởng nhà, đã áp dụng cùng phương pháp nhuộm, chỉ là giảm đi một nửa lượng phèn xám.
Tôi nhìn chằm chằm vào hai dòng chữ đó, chợt hiểu ra Xuân Thủy Đồ không phải là tác phẩm chung của hai người, mà là dấu vết của ba người chồng lên nhau.
Vân Lan để lại cách bắt đầu mũi thêu nhành hoa và thử nghiệm màu xanh đậm; Vân Thâm dựa theo cách nhuộm của chị gái mà cải biên ra màu xanh trung bình phù hợp hơn với bức bình phong thêu lớn; tôi tháo dỡ và sắp xếp lại nhành hoa cũ, để nó kết nối với vân nước của Xuân Thủy. Thiếu đi bất kỳ đoạn nào, đều không thể tạo nên bức tranh như hiện tại.
Thế nhưng trên danh sách của nhà họ Tạ lại chỉ ghi mỗi tên Tạ Vân Thâm.
Mà hai ngày trước, tôi cũng suýt chút nữa coi nó là "Xuân Thủy Đồ của tôi".
Sự nhận thức này khiến tôi cảm thấy x/ấu hổ một cách công bằng.
Trên đường về, tôi gặp Tạ Vân Thâm ở bên cầu. Chàng rõ ràng đã đợi rất lâu, trong tay còn cầm mẫu nhuộm màu đỏ sẫm dự định dùng cho hỉ phục của chúng tôi. Nhìn thấy tôi ôm sổ sách cũ, sắc mặt chàng trở nên phức tạp.
"Nàng thực sự đã tra đến tiệm sổ sách."
"Ừ."
Tôi đưa hai đoạn phương pháp nhuộm đã chép lại cho chàng xem. Chàng xem xong, đầu ngón tay dừng lại rất lâu trên bốn chữ "Vân Lan thử màu".
"Cách phối màu này ta thực sự học từ cuốn sổ tay chị để lại." Chàng nói, "Sau này trong nhà luôn nói ta có thiên phú nhuộm màu, ta cũng không giải thích với khách từng người một, rằng những màu nào là chị ấy đã thử trước."
Tôi ngước nhìn chàng. "Tại sao?"
Chàng không nhìn tôi, chỉ nhìn mặt sông. "Ban đầu thấy không cần thiết. Sau này... người ta càng khen, ta càng không biết nói sao. Nói ra, giống như đang thừa nhận mình không giỏi đến thế."
Đây là lần đầu tiên chàng nói rõ ràng về lớp im lặng đó.
Tôi không tìm lý do thay chàng, cũng không lập tức trách móc. Bởi vì tôi hiểu cảm giác đó. Khi tôi được lão sư phụ gật đầu ở buổi thi thử, cũng từng có khoảnh khắc nghĩ rằng: Nếu mình đổi hẳn sang một mẫu tranh của riêng mình, giả vờ như nhành hoa trên Xuân Thủy Đồ chưa từng mượn điểm khởi đầu của ai, liệu có phải mọi chuyện sẽ trở nên đơn giản hơn không?
Nhưng đơn giản không có nghĩa là đúng.
"Vân Thâm, ngày mai tôi sẽ đi tham tuyển." Tôi nói.
Chàng đột ngột nhìn tôi.
"Nhưng tôi không phải đi nộp tên một mình cho Xuân Thủy Đồ."
"Vậy nàng đi làm gì?"
"Giao trả lại nguồn gốc cho rõ ràng."
Chàng cau mày. "Đài tuyển chọn không phải nơi giảng đạo lý. Người ta chỉ nhìn xem ai làm ra đồ tốt, sẽ không giúp chúng ta phân chia việc nhà đâu."
"Thì cũng phải có người viết tên trở lại trước đã."
"Nàng làm vậy sẽ đá/nh mất cả cơ hội của chính mình đấy."
"Có thể."
Hai chữ này thốt ra, lồng ngựk tôi vẫn nhói lên. Đó là xưởng thêu lớn, nơi tôi muốn vào từ năm mười bốn tuổi. Bên trong có những khung thêu tốt nhất, nguồn cung chỉ lụa ổn định nhất, cũng có những lão sư phụ có thể dạy kỹ thuật thêu bình phong lớn. Không phải là tôi bỗng dưng không quan tâm nữa.
Tôi chỉ bắt đầu hiểu ra, nếu chiếc ghế đó phải xây dựng trên việc xóa tên Vân Lan, rồi lại xóa đi một nửa phần của tôi trên mẫu tranh, thì vào được rồi tôi cũng chưa chắc đã ngồi vững.
Tạ Vân Thâm im lặng rất lâu, đột nhiên thu mẫu nhuộm đỏ sẫm trong tay vào tay áo. "Còn hôn kỳ thì sao?"
Tôi nhìn chàng. "Đừng bàn trước."
Ánh mắt chàng tối lại.
Tôi cũng thấy khó chịu. Đây không phải là ngày trước hôn lễ mà tôi từng tưởng tượng. Tôi cứ ngỡ chúng tôi sẽ bận rộn thử hỉ phục, đối chiếu danh sách khách mời, chứ không phải đứng bên cầu tranh cãi xem một bức tranh rốt cuộc thuộc về ai.
Nhưng tôi vẫn nói hết câu: "Đợi sau khi tuyển chọn xong, chúng ta hãy bàn chuyện hôn sự. Nhưng không phải bàn bằng câu 'người một nhà không cần phân chia'."
Chiều tối hôm đó, tôi viết lại nguồn gốc kỹ thuật của ba người thành ba bản thảo, dùng chỉ nhuộm màu khác nhau để đá/nh dấu. Không phải để x/é Xuân Thủy Đồ thành ba mảnh, mà là để mỗi dấu vết đều có thể nhìn thấy được.
Tôi biết, ngày mai khi cầm chúng bước lên bàn dài tuyển chọn, có thể tôi sẽ chẳng nhận được gì.
Nhưng ít nhất, không ai có thể nói bức tranh này từ đầu đến cuối chỉ là thiên phú của một người.
Đêm đến, tôi đo lại Xuân Thủy Đồ một lần nữa. Thiếu đi cái danh xưng "tác phẩm của một người", nó không hề x/ấu đi, ngược lại giống như lần đầu tiên được tôi nhìn thấu. Tôi chợt không còn sợ mất đi chỗ ngồi vào ngày mai nữa, chỉ sợ lại bỏ sót tên người khác."