Ngày đầu tiên làm việc ở Thanh Hòa Tú Xá, tôi chỉ được xếp một chiếc bàn nhỏ cạnh cửa.
Chưởng quầy tên Đỗ, người làm việc rất nhanh, ném ba món đồ rá/ch, một bức bình phong cũ và hai bó chỉ phối màu trước mặt tôi. "Đừng nghĩ đến tranh lớn vội. Làm sao để vá lại đồ cũ của người khác khiến nó trông như còn dùng tốt, đó mới là bản lĩnh thực sự."
Ban đầu tôi có chút hụt hẫng.
Trước cửa xưởng thêu lớn, điều tôi nghĩ đến là bàn dài, bình phong, sư phụ và danh tiếng; đến đây, thứ đối diện cả ngày lại là tay áo sờn, góc bình phong tuột chỉ, vạt áo trẻ con rá/ch toạc. Thế nhưng đến ngày thứ ba, một bà lão đến lấy chiếc áo khoác đã vá xong, vuốt ve vết vá mà tôi khéo léo giấu vào trong đường gân lá hồi lâu, rồi đột nhiên nói: "Chỗ này vốn dĩ là chỗ rá/ch khó coi nhất, giờ lại trông như vốn dĩ đã có chiếc lá này ở đó rồi."
Nghe vậy, tôi nhớ đến mảnh gấm trắng trăng ở buổi thi thử.
Thì ra tay nghề của tôi được người ta công nhận đầu tiên, chưa bao giờ là nhành hoa trên Xuân Thủy Đồ, mà là việc tôi biết cách khiến một vết rá/ch trở thành một phần của họa tiết mới.
Đêm đó, tôi lật lại toàn bộ bản thảo hai năm qua của mình, lần đầu tiên cố tình cất những cành lá giống với Xuân Thủy Đồ đi, chỉ nhìn vào những thứ còn lại. Khung cửa sổ, chim bay, sóng nhỏ, vết vá, hoa lá ở góc chuyển... tôi mới phát hiện ra, mình không chỉ biết mỗi kiểu nhành hoa đó.
Tạ Vân Thâm nửa tháng không tìm tôi.
Chúng tôi thỉnh thoảng gửi lời nhắn qua học đồ, chỉ vài câu ngắn ngủi. Chàng đến xưởng nhuộm ở chợ phía Tây, tuần đầu tiên bị sư phụ trả về hai đợt màu, nói chàng chỉ biết theo công thức cũ, không hiểu cách điều chỉnh theo nguồn nước khác nhau. Tuần thứ hai, chàng thử lại sáu lần, cuối cùng cũng làm ra một đợt màu xanh mực bền màu.
Nghe được những điều này, lòng tôi vừa xót xa vừa trút được gánh nặng. Nhưng tôi không chạy đến tìm chàng ngay.
Trước đây tôi luôn nghĩ yêu một người là phải tham gia vào mọi khó khăn của họ. Giờ đây tôi muốn thử một lần, chỉ biết, chỉ quan tâm, chứ không can thiệp hay sắp xếp câu trả lời thay họ.
Cuối tháng, xưởng thêu lớn gửi trả bức Xuân Thủy Đồ, kèm theo ba bản thảo được niêm phong cẩn thận. Quản sự chỉ nhắn một câu: Xưởng đã ghi tên bức tranh là "Tam nguồn hợp thành", nếu sau này công khai trưng bày, sẽ chú thích rõ đường kim mũi chỉ cũ của Tạ Vân Lan, công thức nhuộm cải biên của Tạ Vân Thâm và bố cục hiện tại của Thẩm Chức Ninh.
Họ không nhận tôi, cũng không nhận Tạ Vân Thâm.
Tôi chạm vào tờ giấy hồi đáp mỏng manh ấy, trong lòng vẫn có một sự an ủi đến muộn. Không phải vì cuối cùng có người đòi lại công bằng cho tôi, mà vì ba cái tên ấy lần đầu tiên được xếp cạnh nhau trên cùng một tờ giấy, không ai bị nhét vào trong ba chữ "của nhà".
Tôi mang Xuân Thủy Đồ về nhà họ Thẩm, không treo ở chính đường mà cất vào hộp làm việc riêng.
Mẹ hỏi: "Không treo lên sao?"
Tôi lắc đầu. "Đợi đến ngày nào con có thể nhìn nó như một bức tranh thuần túy, chứ không phải là một lần tuyển chọn, rồi hãy nói."
Ngày hôm sau, Tạ Vân Thâm cuối cùng cũng đến.
Chàng đen hơn nửa tháng trước, vết màu trên ngón tay càng đậm. Vào cửa không hỏi chuyện hôn kỳ, chỉ đặt một bó chỉ xanh mực lên bàn. "Ta tự phối lại. Không dùng tỉ lệ trong cuốn sổ của chị nữa."
Tôi se chỉ ra xem, màu trầm hơn những màu chàng từng làm trước đây, nhưng dưới ánh nắng lại không hề bị xám.
"Rất đẹp." Tôi nói.
Chàng mỉm cười, như thể cuối cùng cũng có thể nhận lời khen ngợi về chính mình.
Im lặng hồi lâu, chàng hỏi: "Dạo này nàng thế nào?"
Tôi đưa bản thảo chiếc áo vá cho bà lão xem. "Tôi đang học cách làm tốt mọi việc mà không cần dựa vào tranh lớn."
Chàng xem rất kỹ, cuối cùng nói: "Đường gân lá này giống nàng."
Tôi sững sờ.
Không phải giống Xuân Thủy Đồ, cũng không giống mẫu cũ nhà họ Tạ, mà là giống tôi.
Câu nói đó khiến lòng tôi ấm áp hơn bất kỳ lời khen "nàng có thiên phú nhất".
Cuối tháng đó, tôi nhận được khoản tiền công đầu tiên ở Thanh Hòa Tú Xá. Số tiền không nhiều, tôi dùng một phần nhỏ m/ua hai bó chỉ màu xám xanh tự mình chọn, lần đầu tiên không hỏi nhà họ Tạ có thể nhuộm rẻ giúp tôi không, cũng không tháo từ chỉ thừa của Xuân Thủy Đồ. Khi ôm hai bó chỉ đó về nhà, tôi mới nhận ra đ/ộc lập không phải là câu nói "không cần ai giúp", mà là ngay cả một chút tiền nguyên liệu cũng phải tự mình tính toán vào cuộc sống. Sự thực tế này khiến người ta mệt mỏi, nhưng cũng khiến tôi rõ ràng hơn: sau này nếu hợp tác với ai, tôi hy vọng đó là một sự lựa chọn, chứ không phải vì rời xa đối phương thì không làm nổi việc gì.
Nhưng câu tiếp theo của chàng vẫn quay về nơi chúng tôi không thể tránh khỏi: "Mẹ nói, tháng sau nếu không định lại hôn kỳ, sẽ trả lại thiếp đỏ."
Tay tôi dừng lại trên bó chỉ.
Cuối cùng chúng tôi vẫn phải bàn chuyện hôn sự.
Chỉ là lần này, tôi không muốn đặt nó lên bàn cùng với bất kỳ bức tranh hay suất vào xưởng nào nữa.
Tôi tự hứa với lòng mình, phải ki/ếm được khoản tiền công tiếp theo đã, rồi mới bàn chuyện hôn kỳ.
Tôi chia bó chỉ xám xanh mới m/ua thành hai phần, một phần để luyện tập, một phần chuẩn bị làm mẫu mới của riêng mình. Đêm đó tôi không mở Xuân Thủy Đồ ra, chỉ vẽ lên bản thảo trắng chiếc lá đầu tiên hoàn toàn do chính tôi khởi bút.