Cô Hứa không ngăn chúng tôi kiểm tra máy chủ.
Cô chỉ bước đến trước màn chiếu, chuyển bản thuyết trình vòng chung kết sang trang phương pháp, chỉ vào một dòng chữ nhỏ: “So sánh sau khi loại trừ các sự kiện bất thường”. Dòng chữ đó vốn đã có sẵn, ám chỉ những trường hợp như mưa lớn, ống kính bị đọng sương và ánh sáng sân khấu dịp lễ kỷ niệm trường. Giờ đây, ngày 17 tháng 5 cũng bị nhét vào mục “sự kiện bất thường”.
“File bị xóa bởi quản trị viên, là do cô xóa ạ?” Tôi hỏi.
Ánh Sầm ngước mắt lên. Tôi biết cô ấy cũng đang chờ câu trả lời.
Cô Hứa không trả lời, chỉ nói: “Các em cứ tìm bằng chứng cho đầy đủ đi đã, rồi hãy quay lại hỏi cô.”
Câu nói này vừa như cho phép, vừa như một lời cảnh báo.
Chúng tôi rời tòa nhà khoa học, đi thẳng đến phòng thiết bị câu lạc bộ bên cạnh phòng giáo vụ. Việc lên sân thượng vào ban đêm của câu lạc bộ thiên văn cần quẹt thẻ học sinh, chủ nhiệm câu lạc bộ sẽ nhận được bản ghi an ninh mỗi tháng một lần. Tôi không phải chủ nhiệm, nhưng năm ngoái khi sắp xếp phụ lục cho đề tài nghiên c/ứu, chủ nhiệm đã từng sao lưu dữ liệu cả năm cho tôi.
Ngày 17 tháng 5, hồ sơ ra vào cho thấy tôi vào lúc 20 giờ 58 phút, Ánh Sầm vào lúc 21 giờ 01 phút; 23 giờ 45 phút, chúng tôi lần lượt rời đi. Không có học sinh nào khác quẹt thẻ trong khoảng thời gian đó.
“Vậy ít nhất không phải có người lên đó động vào máy ảnh.” Tôi nói.
Ánh Sầm tựa vào tủ hồ sơ. “Cũng chứng minh được hai chúng ta thực sự đã ở đó đêm đó.”
Giọng cô ấy vẫn nhạt. Tôi biết khoảng lặng ở chương hai vẫn đang mắc kẹt giữa chúng tôi.
Tôi nhét điện thoại vào túi. “Chuyện lúc nãy, lẽ ra tớ nên hỏi cậu trước.”
“Cậu hỏi rồi còn gì.”
“Không phải hỏi cậu có xóa hay không. Lẽ ra tớ nên nói rằng, tớ thấy dữ liệu biến mất nên sợ, sợ cậu cũng vì học bổng mà thay đổi ý định.”
Cô ấy nhìn tôi vài giây. “Tớ thực sự sợ mất học bổng.”
Lòng tôi chùng xuống.
“Nhưng sợ hãi và lén lút xóa dữ liệu là hai chuyện khác nhau.” Cô ấy nói tiếp, “Cậu có thể nghi ngờ lựa chọn của tớ, nhưng không được thay tớ đưa ra lựa chọn.”
Tôi đột nhiên không biết nên đáp lại thế nào.
Cô ấy luôn có thể phân định mọi việc rất rạ/ch ròi. Ống kính lệch thì hiệu chỉnh lại, mây đến thì chờ, tham số sai thì ghi chú. Chỉ có tôi là quen nghĩ về các mối qu/an h/ệ như thời tiết, cảm thấy chỉ cần không nói toạc ra thì có thể nhờ vào sự ăn ý mà tránh được gió bão.
Khi tiếng chuông nghỉ trưa vang lên, chúng tôi quay lại văn phòng câu lạc bộ để tìm ghi chép về đèn.
Bản ghi này vốn là một phần của nghiên c/ứu. Đèn cảnh quan trên sân thượng được lắp bộ điều khiển thông minh, bộ phận tổng vụ sẽ xuất thời gian bật tắt hàng tháng để chúng tôi đối chiếu. Tháng 4 và tháng 6 đều có, nhưng bản tháng 5 lại không có trong thư mục dùng chung.
Ánh Sầm lật tìm trong túi máy ảnh của mình, rút ra một xấp bảng biểu đã in từ trong ngăn kẹp. “Năm ngoái chẳng phải cậu nói file điện tử sẽ biến mất sao? Tớ bị cậu càm ràm đến mức bị ám ảnh đấy.”
Tôi không nhịn được mà bật cười. Đó là lần đầu tiên trong ngày.
Bảng tháng 5 nằm trong đó.
Dòng ngày 17 ghi rất rõ: 21 giờ 14 phút bật chế độ kiểm tra, 23 giờ 26 phút tắt. Chỉ chênh lệch một phút so với sổ tay của tôi.
Chúng tôi xếp ba thứ lên bàn: ảnh xem trước trong khung chat và thời gian gửi, sổ tay độ che phủ mây, và bảng bật đèn. Cộng thêm hồ sơ ra vào, có thể khẳng định đêm đó không phải không quan trắc, cũng không phải do mây gây ra hiện tượng tăng độ sáng.
Thứ duy nhất còn thiếu là file quỹ đạo sao gốc.
“Nếu file gốc thực sự không tìm lại được, những thứ này có đủ không?” Tôi hỏi.
“Đủ để chứng minh đêm đó có tồn tại, nhưng không đủ để tính toán lại tất cả các giá trị độ sáng.” Ánh Sầm nói, “Nhưng máy tính của tớ có thể vẫn còn bộ nhớ đệm (cache) của máy ảnh.”
Cô ấy mở thư mục tạm của phần mềm hình ảnh. Các file xem trước hiện ra từng tấm một, chúng tôi tìm thấy 18 tấm cache độ phân giải thấp liên tiếp. Dù không phải file gốc hoàn chỉnh, thông tin tệp vẫn giữ lại thời gian bắt đầu chụp, thời gian phơi sáng và số sê-ri của máy ảnh.
Tôi nhìn chằm chằm vào dấu thời gian, lòng bàn tay bắt đầu đổ mồ hôi.
Sau 21 giờ 16 phút, độ sáng nền của khung hình tăng cao rõ rệt; sau 23 giờ 26 phút, nó lại giảm xuống mức gần bằng tuần trước.
Bốn sợi dây cuối cùng đã thắt lại với nhau.
Bên ngoài cửa có tiếng bước chân. Lần này cô Hứa không vào trong, chỉ đứng bên khung cửa.
Cô liếc nhìn mặt bàn. “Tra xong rồi?”
Tôi nói: “Ngày 17 tháng 5 không phải lỗi thiết bị. Thời gian bật đèn và thời điểm nền sáng lên hoàn toàn trùng khớp.”
Cô Hứa im lặng một lúc, rút từ trong cặp tài liệu ra hai tờ giấy mới.
“Vậy thì viết rõ lý do loại trừ ra.” Cô nói, “Nhà tài trợ đêm đó đang thực hiện kiểm tra hệ thống, không phải tình huống chiếu sáng thông thường. Nếu nghiên c/ứu muốn thảo luận về môi trường ánh sáng khuôn viên bình thường, thì việc loại bỏ đêm kiểm tra là hợp lý.”
Cô đặt tờ giấy xuống.
Đó không phải tờ x/ác nhận ban đầu, mà là một bản tuyên bố dữ liệu vòng chung kết. Dưới cùng có hai ô ký tên trống.
Tôi thấy bên cạnh còn kẹp một chiếc túi giấy kraft, lộ ra tiêu đề của tờ đơn đề cử nội bộ trường học. Tên tôi đã được điền vào dòng đầu tiên.
Cô Hứa nhìn theo ánh mắt tôi, giọng điệu vẫn bình thản.
“Thư giới thiệu cô sẽ gửi vào tối nay. Hai em cứ lo tốt vòng chung kết đi.”
Sau khi cô đi, cả tôi và Ánh Sầm đều không chạm vào hai tờ tuyên bố đó.
Tôi vốn tưởng rằng, chỉ cần chứng minh đêm đó không phải dữ liệu lỗi thì mọi chuyện sẽ trở nên đơn giản.
Nhưng bằng chứng càng đầy đủ, thứ chúng tôi thực sự phải ký vào lại càng rõ ràng hơn--không phải là một bản báo cáo, mà là việc liệu chúng tôi có sẵn lòng đặt một cái tên mới cho một sự thật bất lợi, cho đến khi nó trông như chưa từng xảy ra hay không.