Ngày thứ ba kể từ khi vị hôn phu mất tích, tôi nhận được một chiếc thẻ phòng vào lúc nửa đêm.

Không phải là bưu phẩm, cũng chẳng phải do ai đó nhét qua khe cửa. Một giây trước, trên bàn làm việc của tôi chỉ có bản vẽ khu phố trong mơ còn dang dở; một giây sau, mực tự lan ra dọc theo mép thước, tụ lại thành hình dáng của một tấm biển số phòng thuôn dài, phía trên đ/è một chiếc thẻ phòng màu xám trắng. Trên thẻ không ghi tên khách sạn, chỉ có một dãy số phòng: 417.

Tôi lật mặt sau lại, dòng chữ trên đó là nét chữ của Trình Sóc.

“Tuệ Ninh, đừng vẽ cửa cho anh.”

Khoảnh khắc đó, tôi biết anh ấy vẫn còn sống.

Ba ngày qua, cảnh sát đã kiểm tra lịch trình giao thông, bạn bè đã tìm khắp các phòng dựng phim anh ấy hay lui tới, còn tôi đã đi bộ hai lần qua từng con phố gần địa điểm tổ chức hôn lễ. Không có camera nào ghi lại cảnh anh rời đi, định vị điện thoại cuối cùng dừng lại ở nơi ở của chúng tôi. Ai cũng hỏi tôi liệu có phải anh ấy đã bỏ trốn trước ngày cưới không, chỉ có tôi là biết nếu Trình Sóc thực sự muốn rời đi, anh ấy sẽ nói thẳng mặt. Anh ấy gh/ét nhất là để người khác thay mình đoán câu trả lời cho sự im lặng.

Chúng tôi dự định kết hôn vào tháng sau. Mẫu thiệp cưới vẫn còn đ/è ở góc bàn, tên của cả hai được in rõ ràng. Giờ đây, chiếc thẻ phòng kia vừa vặn rơi vào giữa hai cái tên ấy.

Tôi là một họa sĩ vẽ bản đồ giấc mơ. Khi có người bị kẹt lâu ngày trong những giấc mơ lặp đi lặp lại mà bác sĩ cùng chuyên gia trị liệu giấc ngủ không tìm thấy lối thoát, họ sẽ giao chi tiết giấc mơ cho tôi. Tôi không giải mộng, cũng không quyết định thay người khác xem điều gì nên quên đi; tôi chỉ vẽ những góc phố, cầu thang, cửa sổ và âm thanh có thể kiểm chứng được trong mơ thành những con đường, tìm ra một lộ trình để người nằm mơ có thể tự mình bước ra ngoài.

Trình Sóc hiểu rõ quy tắc của tôi hơn bất cứ ai. Anh ấy cũng biết, tôi gh/ét nhất là có người khoanh vùng “đáp án đúng” trên bản đồ của người khác.

Vì thế, câu “đừng vẽ cửa cho anh” mà anh để lại, nghe giống một lời cảnh báo hơn là một lời cầu c/ứu.

Tôi dùng thước nhựa đ/è lên chiếc thẻ phòng, nhưng bên dưới thẻ lại rỉ ra một vệt nước ẩm ướt. Đó không phải là nước, mà là làn sương xám chỉ có trong mơ. Sương xám men theo chân bàn lan ra sàn nhà, ngưng tụ thành một hành lang trải thảm đỏ thẫm. Tôi chưa kịp đứng dậy, chiếc đồng hồ trên tường bỗng nhảy sang đúng mười hai giờ đêm.

Tiếng chuông cửa vang lên.

Bên ngoài cửa nhà tôi không phải là cầu thang, mà là sảnh một khách sạn.

Đèn chùm treo quá thấp, ánh vàng giống như vệt hoàng hôn cũ kỹ dừng lại giữa không trung. Sảnh không có cửa sổ, trên tường treo bảy chiếc đồng hồ, tất cả đều chỉ đúng mười hai giờ. Sau quầy lễ tân đứng một người đàn ông mặc ghi-lê xám đậm, không rõ tuổi tác, trước ngựk không đeo bảng tên. Hắn đưa tay về phía tôi.

“Thẻ phòng.”

Tôi không nhúc nhích. “Trình Sóc ở đâu?”

“Khách lưu trú không được phép trực tiếp đưa một khách khác đi.”

“Tôi đến tìm vị hôn phu, không phải đến để thuê phòng.”

Hắn liếc nhìn cây bút vẽ trong tay tôi, khóe miệng khẽ cử động. “Người đã bước vào đây, trước hết đều là khách lưu trú.”

Tôi lùi lại nửa bước, cánh cửa nhà ban nãy đã biến mất. Sau lưng chỉ còn lại một bức tường không vết nối.

Tôi nắm ch/ặt chiếc thẻ phòng trong lòng bàn tay, nhìn xuống sàn trước. Mép thảm đỏ có dấu hiệu sờn cũ, kéo dài từ quầy lễ tân đến hành lang bên trái; trong khi thảm bên phải lại trông như vừa mới trải. Giấc mơ sẽ không vô cớ tạo ra dấu vết sử dụng. Có người đã đi qua lối bên trái trong thời gian dài.

Tôi quay người bước đi.

Người giữ cửa không ngăn tôi, chỉ nói vọng theo: “Phòng 417 không ở tầng đó.”

“Vậy anh ấy ở tầng nào?”

“Nơi không có bình minh thì không phân tầng, chỉ phân biệt xem bạn có nhớ đường hay không.”

Cuối hành lang treo một tấm gương. Tôi nhìn thấy chính mình trong gương, và cũng thấy một người đang ngồi trên chiếc ghế dài vốn dĩ trống không phía sau.

Trình Sóc.

Anh mặc chiếc áo khoác đen của ngày mất tích, cúi đầu, hai tay đan vào nhau. Tim tôi thắt lại, lập tức quay đầu nhìn lại, chiếc ghế dài vẫn trống không.

Trong gương, anh lại ngẩng đầu nhìn tôi.

Tôi đưa tay chạm vào mặt gương, Trình Sóc trong gương đồng thời đứng dậy. Anh nói gì đó, tôi không nghe thấy, chỉ hiểu được khẩu hình của anh.

Đừng vẽ.

Giây tiếp theo, mặt gương nứt ra từ chính giữa, những vết nứt lan rộng ra xung quanh như một bản đồ phố xá hỗn lo/ạn. Cái bóng của Trình Sóc bị c/ắt thành hơn mười mảnh, cuối cùng chỉ còn lại một bàn tay áp vào phía sau gương.

Người giữ cửa không biết đã đứng bên cạnh tôi từ lúc nào.

“Cô có thể nhìn thấy anh ta là vì hai người đã từng chia sẻ đủ nhiều ký ức.” Hắn nói, “Muốn đưa người ra ngoài, thì hãy vẽ một cánh cửa.”

“Cái giá phải trả là gì?”

“Mỗi cánh cửa thực sự dẫn đến chỗ anh ta đều phải dùng một ký ức thời thơ ấu của cô để định vị.”

Tôi nhìn chằm chằm hắn. “Nếu tôi không dùng thì sao?”

“Vậy thì không vẽ ra được cửa.”

“Nếu tôi bịa ra một ký ức giả?”

Người giữ cửa lần đầu tiên thực sự mỉm cười.

“Ký ức hư cấu sẽ mở được cửa.” Hắn nói, “Chỉ là phía sau cánh cửa đó, vẫn là khách sạn.”

Tôi cúi đầu nhìn bàn tay đang cầm bút của mình. Cây bút này đã theo tôi sáu năm, vẽ ra lối thoát cho hàng trăm người. Tôi chưa bao giờ dùng ký ức của chính mình để trả phí qua đường.

Phía sau gương, Trình Sóc lại lắc đầu.

Nhưng tôi đã đặt chiếc thẻ phòng xuống đất, lấy nó làm điểm bắt đầu cho khung cửa và vẽ nét đầu tiên.

“Em không quyết định thay anh về việc có nên rời đi hay không.” Tôi nói với người trong gương, “Nhưng em phải đi đến trước mặt anh, để nghe chính miệng anh nói.”

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Danh sách phà ghi rằng người yêu ngày mai sẽ mất tích

Chương 11
Người lái đò Hà Thành, Lâm Chiếu Tịch, mỗi đêm đều nhận được một danh sách ghi tên những người sẽ mất tích vào ngày hôm sau. Cô có khả năng thay đổi lộ trình mất tích của một người trong đó, nhưng cái giá phải trả là một đoạn tương lai của chính cô sẽ vĩnh viễn biến mất. Một đêm nọ, cái tên Chu Hành Xuyên – người yêu của cô – xuất hiện ở hàng đầu tiên, đúng lúc anh đang chuẩn bị dỡ bỏ bến đò cũ để xây dựng một cây cầu mới, giúp cả thành phố không còn phải phụ thuộc vào chuyến đò bí ẩn nữa. Từ những vệt mực chưa khô, tấm vé tàu tương lai, vòng tuổi trên mái chèo cho đến hồ sơ đo dòng chảy, cả hai dần phát hiện ra: Hành Xuyên không phải vì công trình mà bị đẩy vào cái chết, mà là chủ động viết tên mình vào danh sách, mưu toan dùng sự biến mất của bản thân để chấm dứt sự hy sinh qua nhiều thế hệ của nhà họ Lâm. Chiếu Tịch từ chối việc dùng một sự hy sinh đơn phương khác để đổi lấy tự do, cô chọn cách để cả thành phố nhìn thấy cái giá thực sự của bản khế ước, từ đó tìm kiếm con đường thứ ba để mọi người được ở lại và đặt dấu chấm hết cho thể chế này.
0