Người giữ cửa không trả lời tôi. Nhưng khách sạn đã thay ông ta trả lời.
Bên phải đại sảnh vốn không có cửa, nhưng đêm đó lại xuất hiện thêm một phòng đọc sách. Trên cửa không có số hiệu, chỉ có một nét móc ngược giống hệt phía sau bức tranh thời thơ ấu của tôi. Khi tôi bước tới, người giữ cửa nói: “Đó không phải dành cho cô.”
“Khách sạn tự mở ra căn phòng không dành cho tôi sao?”
“Đôi khi nó chỉ muốn khiến người ta tưởng rằng mình đã tìm thấy đáp án.”
Tôi khựng lại trước khi nắm lấy tay nắm cửa.
Hồi ức hư cấu sẽ tự mọc ra bằng chứng. Khách sạn đã có thể ngụy tạo một chuyến du lịch biển, thì cũng có thể ngụy tạo một cuốn đáp án. Tôi không thể vì nhìn thấy thứ mình muốn thấy mà tin ngay được.
“Trình Sóc,” tôi quay đầu lại, “anh cũng nhìn thấy ký hiệu trên cửa chứ?”
“Thấy.”
“Nó trông như thế nào?”
Anh dùng ngón tay vẽ lại trong không trung, giống hệt những gì tôi thấy.
Lớp x/ác nhận chung đầu tiên đã thành lập.
Chúng tôi cùng nhau bước vào. Trong phòng đọc không có sách, chỉ có những bức tường. Mỗi bức tường đều vẽ đầy cửa và các lộ trình, nét bút có ít nhất vài chục loại. Bên cạnh một số cánh cửa có ghi hai cái tên, một số khác chỉ có một. Những lộ trình chỉ ghi một cái tên đa số đều đ/ứt đoạn giữa chừng; những đường kẻ đã được hai cái tên đối chiếu lẫn nhau sẽ kéo dài đến khu vực công cộng.
Tôi men theo bức tường xem dọc đường, tìm thấy nét móc ngược kia. Bên cạnh có một dòng chữ: “Hai người chứng thực lộ trình, ba người chứng thực quy tắc.”
“Ba người?” Trình Sóc đọc thành tiếng.
Phía sau bỗng có tiếng ho khan. Tôi quay đầu lại, thấy một bà cụ mặc áo ngủ màu đỏ đứng ở cửa. Bà ấy vẫn luôn ngồi ở góc đại sảnh, tôi cứ tưởng đó chỉ là phông nền do khách sạn tạo ra.
“Tôi đã nhìn câu nói đó suốt hai mươi bảy đêm nửa đêm rồi,” bà nói.
Tôi hỏi: “Bà là khách lưu trú ạ?”
“Không thì đến đây nghỉ dưỡng à?”
Bà tên là Dư. Bà không nhớ mình bao nhiêu tuổi trong thực tại, cũng không nhớ tại sao lại vào ở, chỉ nhớ mỗi đêm nửa đêm sẽ mất đi một thứ gì đó. Bà từng cùng một vị khách khác x/ác nhận “phí phòng chỉ lấy đi ký ức riêng tư”, nhưng khi người thứ ba chưa kịp x/ác nhận, vị khách kia đã vẽ sai cửa và bị khách sạn đưa vào căn phòng không tồn tại.
“Ba người cùng tận mắt thấy một quy tắc, nó sẽ không thể trốn trong phòng được nữa,” bà Dư nói, “nó sẽ xuất hiện trên tường đại sảnh.”
Tôi nhìn về phía người giữ cửa. Ông ta đứng ngoài phòng đọc, không hề phủ nhận.
“Vậy quy tắc phòng sẽ bị sửa sao?”
“Không.” Ông ta nói.
“Vậy sẽ thế nào?”
“Bị nhìn thấy.”
Tôi đã hiểu. Sức mạnh lớn nhất của khách sạn không phải là đặt ra quy tắc, mà là khiến mỗi người chỉ biết mình đã trả phí gì. Có người mất tuổi thơ, có người mất một mối tình, có người mất đi khuôn mặt của một ai đó, tất cả đều tưởng đó chỉ là giá phòng của riêng mình. Chỉ cần quy tắc nằm lại trong phòng riêng, khách lưu trú sẽ không thể phán đoán liệu mình có thực sự đồng ý hay không.
“Sau khi ba người chứng thực quy tắc thì sao?”
Bà Dư chỉ vào cánh cửa vẽ rất nhạt ở nơi sâu nhất. “Quy tắc đó sẽ trở thành lộ trình công cộng. Khách sạn vẫn có thể thu phí, nhưng không được tự ý lấy đi khi người ta đang ngủ. Nó phải hỏi trước.”
Trình Sóc hạ giọng: “Vậy là có thể dừng việc tự động trừ phí của phòng thế chấp.”
“Cũng có thể khiến những khách lưu trú sau này biết mình đang đá/nh đổi thứ gì,” tôi nói.
Đây không phải là phá hủy hoàn toàn khách sạn, nhưng có thể chấm dứt cơ chế quan trọng nhất của nó: dùng giá phòng không minh bạch để khiến người ta bị ăn mòn dần qua từng đêm.
Vấn đề là, chúng tôi cần người thứ ba cùng x/ác nhận. Bà Dư có thể x/ác nhận việc trừ phí của bà, nhưng không thể x/ác nhận của Trình Sóc. Chúng tôi phải tìm ra một quy tắc mà cả ba người đều tận mắt nhìn thấy.
Tôi dồn ánh mắt vào chiếc đồng hồ ở đại sảnh. Mỗi đêm nửa đêm, kim đồng hồ quay về điểm xuất phát; mỗi lần trừ phí, vệt xám trên cổ tay Trình Sóc lại sáng lên; mỗi lần tôi vẽ cánh cửa thật, tôi lại mất đi một đoạn tuổi thơ riêng tư.
“Ba sự việc thực chất là một.” tôi nói.
Tôi để Trình Sóc, bà Dư và tôi đứng trước quầy lễ tân, chờ đợi đêm nửa đêm lần tới. Kim đồng hồ chỉ đúng 12 giờ 03 phút.
Tiếng chuông thứ nhất vang lên, tất cả cửa phòng đóng lại.
Tiếng thứ hai, vệt xám trên cổ tay Trình Sóc phát sáng.
Tiếng thứ ba, chiếc thẻ phòng để lại từ cánh cửa đầu tiên trong túi tôi bắt đầu nóng lên.
Rồi kim đồng hồ đảo ngược.
Cả ba người cùng lúc nhìn thấy.
Tôi lập tức vẽ một vòng tròn trên sàn đại sảnh: đồng hồ, vệt xám, thẻ phòng, ba điểm kết nối với nhau.
“Khi nửa đêm đảo ngược, khách sạn tự động thu phí ký ức chưa được x/ác nhận chung để làm phí phòng gia hạn lưu trú,” tôi từng chữ một nói.
Trình Sóc lặp lại. Bà Dư cũng lặp lại.
Chữ cuối cùng vừa dứt, tường đại sảnh bỗng như bị nước dội qua, hiện ra đúng câu nói đó.
Sắc mặt người giữ cửa lần đầu tiên thay đổi.
Tiếng chuông lần sau không đến ngay lập tức. Bà Dư che miệng, nước mắt đột ngột rơi xuống. “Dừng lại rồi.”
Vệt xám vốn ẩn hiện trên cổ tay bà không còn sáng nữa. Trình Sóc cũng nhìn tay mình.
“Chỉ là tạm dừng thôi,” người giữ cửa nói.
“Không,” tôi nhìn chằm chằm vào dòng chữ trên tường, “là từ nay về sau, các người phải được sự đồng ý trước.”
Trên tường lại hiện ra hàng thứ hai:
“Giá phòng đã công khai, không được tự ý lấy đi.”
Lồng ngựk tôi nóng rực, nhưng không hề có sự nhẹ nhõm của chiến thắng. Bởi vì câu tiếp theo của người giữ cửa đã nhắc nhở tôi:
“Cô sửa đổi việc lưu trú, chứ không phải lối thoát.”
Tôi biết. Để đưa Trình Sóc thực sự trở về thực tại, tôi vẫn phải vẽ cánh cửa cuối cùng.
Mà cái giá của cánh cửa đó, đã rõ ràng rành mạch.
Đó là toàn bộ tuổi thơ của tôi trước khi gặp anh.