Chị Diệp bình an trở về nhà trong ngày hôm đó, bức tường phía Bắc cũng thực sự đổ sập vào lúc gần trưa.
Nếu chị đi qua ngõ Xươ/ng Cá, chắc chắn sẽ đi ngang qua dưới chân bức tường ấy.
Chuyện này nhanh chóng lan truyền khắp nửa thành phố sông nước. Có người nói bến đò Quy Đình lại hiển linh, có người nói chị Diệp chỉ là vận may tốt. Chỉ có tôi biết, khi bức tường đó đổ xuống, vòng tuổi thứ bảy trên mái chèo cũ đã khô khốc, và một buổi tối mà tôi và Hành Xuyên vốn có thể có đã vĩnh viễn mất đi.
Hành Xuyên cả ngày không nhắc lại chuyện vé thuyền.
Chiều tối, anh đưa tôi đến Ty Công vụ xem đĩa đo dòng chảy.
Ty Công vụ được xây trên một cái bục gỗ tạm thời ở đầu phía Nam cây cầu mới, xung quanh chất đầy dây thừng, phao nổi và quả dọi chì. Hành Xuyên trải từng cuộn giấy ghi chép tự động của ba tháng gần đây ra. Tôi không hiểu về tính toán cầu đường, nhưng tôi hiểu dòng sông.
Cứ mỗi đêm tôi c/ứu người, gần dòng xoáy lại xuất hiện thêm một vệt vân ngược cuộn về phía bến đò cũ. Số lần trùng khớp hoàn toàn với số vòng tuổi mới trên mái chèo cũ.
"Bảy lần." Tôi nói.
"Bảy lần." Hành Xuyên gật đầu, "Hơn nữa dòng chảy ngược không phải hình thành tự nhiên. Như thể có thứ gì đó từ hạ lưu kéo nước ngược trở lại."
Tôi chạm vào mép giấy, chợt nhớ ra một câu tổ mẫu từng nói: Sông không n/ợ người, chỉ đòi lại hướng đi đã bị thay đổi.
Trước đây tôi cứ nghĩ bà đang nói về thế nước.
"Công việc tháo dỡ bến đò ngày mai sẽ dừng lại." Hành Xuyên nói.
Tôi nhìn anh: "Anh có quyền dừng sao?"
"Có ba ngày. Quá ba ngày phải giải trình với Nghị sự thự thành phố."
"Lý do là gì?"
"Dòng chảy bất thường."
Anh không nói là vì danh sách của tôi, điều này khiến tôi trút được gánh nặng. Nhưng ngay khoảnh khắc tiếp theo, tôi lại thấy x/ấu hổ. Những năm qua, tôi đã quen với việc người khác dựa dẫm vào bến đò, nhưng lại giấu kín cái giá phải trả như thể chỉ mình tôi xứng đáng gánh chịu. Hành Xuyên khi biết được, phản ứng đầu tiên không phải là phơi bày bí mật của tôi, mà là dùng lý do có thể công khai để tranh thủ thời gian cho tất cả mọi người.
"Đêm qua em nói, khế ước không quan tâm đến con thuyền." Anh đột ngột lên tiếng, "Vậy tại sao vẫn cần vé thuyền ghi ngày tương lai?"
Tôi lấy tấm vé của anh ra khỏi túi. Ngày tháng đã là hôm nay, chữ vẫn xám xịt.
"Vé có lẽ là bằng chứng thừa nhận 'sự thay đổi'." Tôi nói, "Danh sách chỉ ra người sẽ mất tích trước, vé thuyền sau đó đá/nh dấu ai đã bị tôi đổi đường."
"Còn mái chèo thì sao?"
"Thu n/ợ."
Chúng tôi đồng thời im lặng.
Hành Xuyên cầm lấy mái chèo cũ, men theo bảy vòng tuổi nhìn kỹ. Mấy vòng trong cùng màu sẫm, càng ra ngoài càng mới. Anh chợt đặt mái chèo xuống bên cửa sổ, chỉ vào một đường đôi cực mảnh giữa vòng thứ ba và thứ tư.
"Cái này không giống vòng tuổi."
Tôi ghé sát lại xem. Ở đó có một vết hằn gần như dính liền vào nhau, giống như cùng một đêm từng thu n/ợ hai lần, rồi lại bị ép ch/ặt thành một lần.
"Tôi chưa từng c/ứu hai người." Tôi nói.
"Còn cha em thì sao?"
Tay tôi cứng đờ.
Cha cũng là người chèo đò, qu/a đ/ời một năm trước khi tôi tiếp nhận khế ước. Mọi người đều nói ông sảy chân trong sương m/ù mùa đông, đến thuyền cũng không tìm thấy. Tôi chỉ thừa kế mái chèo cũ và mái hiên bến đò, không tìm thấy cuốn danh sách cuối cùng của ông.
Hành Xuyên không hỏi thêm, chỉ nói: "Nếu vết này không phải của em, có thể là của ông ấy."
Chúng tôi đến mái hiên bến đò lục lọi đồ cũ.
Những chiếc rương tổ mẫu để lại phần lớn là sổ sách, nút thắt dây và dụng cụ sửa thuyền. Dưới cùng đ/è một xấp vé thuyền quá hạn, trong đó có một tấm không tên, nhưng ngày tháng lại viết từ mười chín năm trước.
Ngày tương lai.
Tôi đưa tấm vé ra dưới ánh đèn, góc vé có một dấu mộc thuyền mờ nhạt, không phải tên người.
Hơi thở Hành Xuyên khựng lại: "Không có tên cũng có hiệu lực sao?"
"Tôi không biết."
Tôi chưa từng thấy vé trống bao giờ. Gia quy ghi rõ ràng: Danh sách liệt kê, chọn một mở vé.
Trên vé không nên để trống.
Điều kỳ lạ hơn nữa là màu gỗ của đường đôi trên mái chèo cũ, cũng cũ kỹ y hệt tấm vé này.
Chúng tôi còn chưa hiểu ra, ngoài cửa bỗng có người gõ ba tiếng.
Là bác Tề sống ở bờ Tây. Bác sửa thuyền cả đời, sau khi nghỉ hưu vẫn mỗi ngày đến bến đò ngồi nửa canh giờ. Bác nhìn thấy xấp vé cũ chúng tôi bày đầy bàn, thở dài một tiếng trước.
"Cuối cùng cháu cũng tìm thấy tấm này rồi."
Tôi đứng bật dậy: "Bác biết sao?"
"Biết một chút." Bác Tề nhìn Hành Xuyên một cái, "Năm cuối cùng của cha cháu, trên sông cũng có một lần danh sách viết tên người không nên viết."
"Ai ạ?"
Bác Tề không trả lời, chỉ dán mắt vào tấm vé trống trong tay tôi.
"Đêm đó, ông ấy để một con thuyền không đi vào dòng xoáy."
Tim tôi đ/ập mạnh.
"Kết quả thì sao ạ?"
"Thuyền không trở về." Bác Tề nói, "Cha cháu trở về, nhưng từ đó về sau, ông ấy không bao giờ nhìn thấy danh sách đầy đủ nữa. Nửa năm sau, ông ấy mất tích."
Hành Xuyên ngước lên: "Thuyền không thay thế cho ai?"
Bác Tề lắc đầu: "Bác không biết. Chỉ biết sau ngày đó, bến đò cũ ngừng hoạt động suốt một mùa."
Một mùa.
Tôi nhớ đến mấy tháng mà thành phố sông nước dựa dẫm vào bến đò nhất: mùa mưa, mùa sương, dược liệu bờ Bắc, lương thực bờ Nam đều dựa vào tuyến đường này.
Nếu thuyền không thực sự có thể thay thế người, thì cái giá phải trả không chỉ rơi lên người tôi.
Nó sẽ đổ lên toàn bộ thành phố.
Tôi cúi đầu nhìn tấm vé từ mười chín năm trước, lần đầu tiên nhìn thấy một khả năng khác.
Cũng lần đầu tiên hiểu ra, cha có lẽ từng thử không để một người nào đó phải trả giá thay cho tất cả.