Khế ước gốc lộ ra vào lúc gần trưa ngày hôm sau.
Đó không phải là một tờ giấy, mà là cả một phiến đ/á xanh trắng nén dưới nền móng bến đò. Sau khi thủy triều rút, Hành Xuyên dẫn hai công nhân nạo vét bùn xung quanh, tôi và bác Tề đứng trên bờ nhìn xuống. Chính giữa phiến đ/á khắc dấu ấn con thuyền, xung quanh là những dòng chữ Hà cổ xếp dày đặc.
Tôi đọc được một nửa.
"Thành phố sông nước mượn một tuyến đò bình an, nhà chèo đò thay trông coi lộ trình mất tích." Tôi đọc to, "Danh sách chỉ người sắp mất, người chèo đò được đổi đường đi của một người; mỗi lần đổi một đường, đền một tương lai chưa đến của người chèo đò."
Hành Xuyên ngồi xổm ở phía đối diện phiến đ/á, đối chiếu theo những mảnh giấy vụn.
Nửa sau bị bùn ăn mòn nghiêm trọng, chỉ còn rõ hai câu: Người Tự thư quy về nước, món n/ợ tương lai dứt; nếu nhà chèo đò phá hủy khế ước, bến đò cũ ẩn đi một mùa, danh sách, dòng xoáy và khả năng thấy trước đều trở về với sông.
Tôi nhìn chằm chằm câu cuối cùng.
Đây chính là cái giá phải trả.
X/é khế ước không phải không có gì xảy ra. Bến đò cũ sẽ biến mất trọn vẹn một mùa, tôi cũng sẽ vĩnh viễn mất đi khả năng nhìn thấy danh sách và thấy trước tương lai. Thực tế hơn nữa, hiện tại đang là trước mùa sương m/ù. Cầu mới ít nhất còn bốn tháng nữa mới có thể thông xe, nếu bến đò biến mất, dược liệu bờ Bắc và xe lương thực bờ Nam đều phải đi vòng đường núi phía Đông, thời gian sẽ tăng gấp đôi.
"Cho nên trước đây không ai x/é." Tôi nói.
Bác Tề trên bờ khẽ nói: "Không phải không muốn, mà là không dám."
Tôi chợt hiểu vì sao tổ tiên lại gói ghém sự hy sinh thành trách nhiệm. Chỉ cần cái giá tập trung vào một gia tộc, cả thành phố sẽ không phải cùng đối mặt với sự bất tiện. Lâu dần, mọi người thậm chí sẽ tin rằng đó là lẽ đương nhiên.
Hành Xuyên dùng nước rửa sạch bùn ở góc phiến đ/á, để lộ ra một dòng chữ nhỏ hơn.
"Ở đây còn nữa."
Tôi ngồi xổm lại gần.
Dòng chữ đó viết: Ghế trống qua sông trước, tên có thể giữ lại bờ; nhưng sự ẩn đi một mùa, không thể miễn.
Tim tôi đ/ập mạnh.
Chuyến đò không người của cha năm đó rõ ràng không phải ngẫu nhiên; xét từ tấm vé trống và vết tích trên mạn thuyền để lại, ít nhất ông cũng đã làm theo quy tắc này.
"Ghế trống là gì?" Hành Xuyên hỏi.
Tôi nhớ đến tấm vé tương lai mười chín năm trước không có tên, chỉ có dấu ấn con thuyền.
"Vé không nhất thiết phải mở cho người." Tôi nói, "Nó cần một 'vị trí' được danh sách thừa nhận đi qua dòng xoáy trước. Người thì có thể ở lại trên bờ."
"Vậy tên tôi..."
"Nếu vé của anh buộc vào con thuyền không người, thuyền không người đi thế lộ trình mất tích thay anh, anh có thể ở lại."
Hành Xuyên không lộ vẻ nhẹ nhõm. Anh hỏi trước tiên: "Vậy thì bến đò sẽ biến mất một mùa?"
"Nếu chỉ là chuyến đò không người, sẽ."
"Còn x/é khế ước thì sao?"
"Cũng sẽ."
Chúng tôi nhìn nhau.
Điều này có nghĩa là chúng tôi có thể lặp lại cách làm của cha, c/ứu Hành Xuyên trước, để khế ước cho sau; cũng có thể x/é khế ước trong cùng một lần đò không người đó, để bộ quy tắc này thực sự kết thúc.
Điểm khác biệt là, cách sau sẽ khiến tôi mất đi năng lực, và cả thành phố lập tức phải gánh chịu việc ngừng đò.
Hành Xuyên đứng dậy, nhìn về phía cây cầu mới đang thi công.
"Cầu tạm của Ty Công vụ có dùng được trước không?" Tôi hỏi.
Anh nhanh chóng hiểu ý tôi: "Chỉ có thể đi người và xe nhỏ, không qua được hàng nặng. Hơn nữa đoạn phía Bắc còn thiếu hai bộ thanh chống xiên."
"Mấy ngày bổ sung được?"
"Nhanh nhất là hai ngày."
Ngày mất tích trên danh sách là tối nay.
Không kịp.
Lòng tôi trĩu xuống. Hành Xuyên lại lật tờ giấy đo dòng chảy sang mặt sau: "Còn đường cũ núi Đông. Trước mùa sương m/ù một tháng có thể đi, chỉ là mất thêm bốn canh giờ. Tiệm lương thực sẽ không vui, nhưng không đến mức đ/ứt lương."
"Dược liệu thì sao?"
"Có thể dùng xuồng thi công đi vòng từ thượng nguồn, nhưng không thể đi qua dòng xoáy."
Tôi lần đầu tiên nhìn thành phố sông nước bằng con mắt không phải của người chèo đò.
Hóa ra, không có bến đò Quy Đình, thành phố sẽ không ch*t ngay lập tức. Sẽ chậm hơn, phiền hơn, đắt đỏ hơn, có người sẽ chịu thiệt, nhưng không phải là không còn con đường nào khác. Sự hy sinh của tổ tiên khiến tất cả mọi người quen với sự an toàn tiện lợi nhất, lâu đến mức chính chúng tôi cũng coi sự tiện lợi đó là không thể thay thế.
Buổi chiều, tôi đi tìm Nghị sự thự thành phố.
Hành Xuyên hỏi trước khi ngăn tôi: "Em định công khai?"
"Định."
"Khế ước không phải cấm em nói sao?"
"Gia quy nói không được chủ động công khai cái giá." Tôi nhìn phiến đ/á, "Nhưng khế ước gốc thì không cấm."
Anh cười một tiếng: "Lại là gia quy."
"Ừ. Có người thay hậu bối thêm vào đấy."
Khi chúng tôi bước vào Nghị sự thự, bên ngoài đã tụ tập không ít cư dân. Việc ngừng thi công, cây cầu mới và lời đồn về danh sách đã trộn lẫn vào nhau. Chủ tiệm lương thực phố Nam vừa nhìn thấy tôi đã hỏi, bến đò lại xảy ra chuyện rồi sao.
Tôi đứng trên bậc đ/á, lần đầu tiên không dùng gia huấn để chặn họ.
"Tối nay có thể sẽ ngừng đò." Tôi nói.
Đám đông lập tức xôn xao.
"Không phải một ngày." Tôi nói thêm, "Có thể cả một mùa."
Mọi tiếng ồn đều ngừng trong khoảnh khắc.
Tôi giơ bản rập khế ước gốc lên.
"Tôi sẽ giải thích rõ nguyên nhân. Nhưng trước tiên nói điều quan trọng nhất - các vị có quyền biết, sự 'bình an' của bến đò Quy Đình bao năm qua không phải là miễn phí."
Hành Xuyên đứng lùi về phía tôi nửa bước, không nói thay tôi.
Tôi bỗng thấy sợ. Không phải sợ mọi người trách móc, mà là sợ sau khi nói xong, tôi sẽ không thể tiếp tục coi mình là người âm thầm gánh chịu, do đó đương nhiên có quyền quyết định nữa.
Nhưng tôi vẫn mở miệng.
Bởi vì nếu sự an toàn của một thành phố thực sự cần cái giá, thì cái giá đó không nên chỉ do người kiên nhẫn nhất biết.