Ngày hôm sau, tôi đến studio sớm một tiếng, việc đầu tiên là chụp ảnh lưu lại niêm phong của tủ đựng máy ảnh. Niêm phong còn nguyên vẹn, mật mã cũng không bị thay đổi. Tôi quét tấm thẻ quy tắc tối qua thành file độ phân giải cao, đối chiếu từng chữ một nhưng vẫn không tìm ra nguồn gốc.
Thẩm Hành đến lúc chín giờ, đặt bữa sáng cách chỗ tôi hai cái bàn. “Em nói không được đứng chung khung hình, hôm nay anh sẽ đi cửa sau.”
“Phản chiếu trong gương cũng tính là đứng chung.” Tôi nhắc nhở.
Anh ừ một tiếng, quay người đẩy chiếc gương di động ở khu vực rửa ảnh vào sát tường. Tôi vốn định cười, nhưng khi mở hộp sữa đậu nành lại phát hiện trên thân cốc có dán một tờ giấy ghi chú: Bảy năm trước lần đầu em tăng ca, em uống không đường, sau này mới đổi sang nửa đường. Điều này có thể kiểm chứng, không phải là ký ức bị hoán đổi.
Tôi cất tờ giấy vào tập tài liệu. “Cảm ơn anh đã không trực tiếp nói cho em biết trước kia em thích gì.”
“Hôm qua em nói, đừng thay em bù đắp những khoảng trống.”
Câu nói này khiến lồng ngựk tôi nhẹ nhõm đi một chút. Ít nhất là vào sáng ngày thứ hai, chúng tôi vẫn có thể tuân thủ những quy tắc vừa đặt ra.
Tôi bắt đầu khôi phục lại đêm mưa đó. Hồ sơ ra vào studio cho thấy, tôi đến vào lúc 23:48 ngày 17 tháng 11, hai năm trước, và rời đi lúc 00:37 ngày hôm sau; Thẩm Hành đến sau tôi bảy phút và rời đi cùng lúc với tôi. Đêm đó, tư liệu hình ảnh cá nhân của một khách hàng bị đồng bộ nhầm sang liên kết xem trước công khai, mười phút sau mới gỡ xuống. Đơn giải trình sự cố do tài khoản của Thẩm Hành nộp lúc 00:22, mục trách nhiệm chỉ ghi tên anh.
Tôi nhìn chằm chằm vào hồ sơ rất lâu.
“Lúc đó anh gánh tội thay em à?” Tôi hỏi.
Thẩm Hành không trả lời ngay. Anh xoay máy tính xách tay về phía tôi, trên màn hình là lịch sử phiên bản của cùng một tờ đơn sự cố. “Anh gửi trước, đó là sự thật. Tại sao lại gửi trước, anh muốn đợi em xem xong dữ liệu của chính mình rồi mới nói.”
Đáng lẽ tôi có thể ép anh trả lời, nhưng điều đó chẳng khác nào việc lén xem ký ức của anh. Tôi chép lại số phiên bản rồi tiếp tục kiểm tra hộp thư đi của mình.
Bốn giờ chiều, để tránh đứng chung khung hình, ngay cả việc chụp sản phẩm cho khách chúng tôi cũng đứng tách biệt. Tôi sắp xếp file ở phía hộp đèn, Thẩm Hành chỉnh ánh sáng ở phía bên kia. Thế mà chiếc máy ảnh cũ rõ ràng đang khóa trong tủ lại phát ra tiếng màn trập.
Cả hai cùng ngẩng đầu.
Cửa tủ không mở, nhưng tấm ảnh lại từ từ trượt ra từ khe hở. Bức ảnh thứ hai chụp lại hình ảnh phản chiếu trên hộp đèn--tôi đang cúi đầu gắn thẻ, vai anh xuất hiện ở phía bên kia tấm kính. Hai người không đứng cạnh nhau, nhưng hình ảnh phản chiếu lại bị tính là đứng chung khung hình.
“Xem ra quy tắc còn khó tính hơn chúng ta.” Tôi nói.
Thẩm Hành hiếm hoi cười một cái. “Ít nhất thì nó không thu phí thuê studio.”
Nụ cười đó khiến tôi nhớ đến dáng vẻ của chúng tôi khi thức đêm làm bài trước đây. Tôi không đuổi theo ký ức đó, chỉ bỏ bức ảnh thứ hai vào túi, rồi viết lên bảng trắng: “Hình phản chiếu cũng tính.”
Nửa đêm đến, khó chờ đợi hơn ngày đầu tiên.
Đúng mười hai giờ, tôi nghe thấy tiếng d/ao nĩa chạm vào đĩa sứ trước. Giây tiếp theo, tôi đứng trong góc nhìn của Thẩm Hành, thấy mình của hai năm trước đang ngồi trong quán ăn nhỏ dưới lầu studio, đang đẩy miếng khoai tây chiên cuối cùng vào đĩa của anh.
“Hôm nay anh giúp em c/ứu lại hơn ba trăm file, miếng này coi như tiền tăng ca.” Tôi khi đó nói.
Trong ký ức của Thẩm Hành, tôi cười rất rạng rỡ. Trong hình ảnh, tay anh vươn ra, không lấy thức ăn, mà là gỡ miếng giấy dán nhãn dính trên tay áo tôi.
Sau khi ký ức kết thúc, tôi ngồi trước bàn, đầu ngón tay vẫn còn cảm giác chạm vào tờ giấy không tồn tại.
“Anh nhận được đoạn nào?” Tôi hỏi.
Thẩm Hành cúi đầu viết xong trên giấy mới đưa cho tôi: Ngày bố em nằm viện, em bảo anh quay về studio sao lưu dữ liệu trước ở ngoài phòng cấp c/ứu. Anh vốn nhớ mình đã ở lại cùng em, giờ đoạn đó trở thành khoảng trống.
Tôi nhìn dòng chữ anh viết, không phán xét thay anh tại sao lúc đó lại ở lại. Chỉ nói: “Đoạn đó ở chỗ em.”
Chúng tôi làm theo thỏa thuận tối qua, mỗi người mô tả, không giải thích. Điều này ngược lại khiến tôi lần đầu tiên cảm thấy, việc hoán đổi ký ức chưa chắc chỉ là cư/ớp đi thứ gì đó. Nó buộc chúng tôi phải tháo rời “tôi nhớ anh như thế nào” thành những mảnh có thể đối chiếu, thay vì lấy sự thân quen làm bằng chứng.
Tôi quay lại thư mục sự cố, cuối cùng tìm thấy một bản nháp chưa gửi trong thùng rác. Thời gian tạo lập chính là 00:17 đêm mưa đó.
Tiêu đề là: Bổ sung giải trình trách nhiệm.
Nội dung chỉ có hai câu: “Liên kết xem trước công khai bị đồng bộ nhầm khi tôi sắp xếp. Thẩm Hành dùng tài khoản của anh ấy nộp đơn trước là do tôi yêu cầu.”
Tôi nhìn chằm chằm vào hai câu đó, cổ họng thắt lại.
Nếu bản nháp là thật, thì đêm đó không phải anh đơn phương gánh vác thay tôi.
Nhưng tại sao tôi lại không gửi đi?
Kỳ lạ hơn là, bản nháp cuối cùng vẫn còn để lại một câu chưa gõ xong--
“Sự cố giải quyết xong, chúng ta đừng bao giờ...”
Tôi chụp màn hình, lưu lại thời gian, không bổ sung thêm câu đó.
Bức ảnh thứ hai hiện hình hoàn toàn trên hộp đèn. Cơn mưa trong nền rõ hơn bức thứ nhất, và trên cổ tay tôi xuất hiện một chiếc dây đeo máy ảnh màu đỏ mà bây giờ tôi không tìm thấy đâu nữa.
Tôi nhận ra chiếc dây đeo đó.
Nó vốn dĩ thuộc về chiếc máy ảnh cũ này.