Ngày nhà máy thực sự đóng cửa, buổi triển lãm đã kết thúc được hai tuần.

Tôi quay lại lấy thùng đồ cá nhân cuối cùng, chiếc bàn dài trong phòng mẫu đã trống trơn, chỉ còn lại những vệt màu nhạt hơn theo từng ô sau khi lớp băng dính bị bóc đi. Sư phụ Phạm ngồi bên cửa sổ, lau sạch chiếc kéo của mình, chuẩn bị mang về nhà.

“Triển lãm của cháu có ai xem không?” ông hỏi.

“Dạ có ạ.”

“Có ai trả tiền không?”

“Dạ có hai dự án mới ạ.”

Ông mới ngẩng đầu lên. “Vậy cũng tạm được.”

Tôi cười, đặt một túi giấy nhỏ lên bàn ông, bên trong là những bức ảnh in ra sau khi tháo dỡ triển lãm. Bức đầu tiên là chiếc áo khoác xanh lục đậm, bức thứ hai là vệt sáng không thể che giấu trên chiếc váy lễ phục màu đen.

Sư phụ Phạm lật xem. “Đừng có lúc nào cũng bày cái thất bại lên đầu tiên.”

“Cháu không có. Bức đầu tiên là cái thành công ạ.”

“Vậy thì cháu vẫn còn c/ứu được.”

Chúng tôi cùng nhau khóa lại chiếc tủ đựng bản rập cuối cùng. Những bản vẽ thuộc về nhà máy đó sẽ được niêm phong hoặc tiêu hủy theo quy trình, tôi không còn ý định lấy thêm tờ nào nữa. Mười năm trước, tôi cứ ngỡ mọi bản lĩnh của mình đều nằm trong những chiếc tủ này, giờ đây đứng trước cửa với đôi bàn tay trắng, tôi lại không còn sợ hãi như trước.

Hạn định bốn tháng trôi qua nhanh hơn tôi dự tính.

Thu nhập của tôi chưa quay lại mức ở nhà máy. Tháng đầu tiên chỉ có vài đơn sửa chữa lẻ tẻ từ đoàn kịch và tám bộ trang phục biểu diễn của phòng tập múa; tháng thứ hai nhận đá/nh giá tình trạng cho những bộ trang phục bị ẩm mốc, tôi nhận định năm bộ trong đó không phù hợp để tự làm sạch, nên đã giới thiệu sang một studio bảo quản chuyên nghiệp, chỉ lấy phí kiểm tra. Lần đó ki/ếm được ít hơn nhiều, nhưng đổi lại, đối phương sau đó đã giao cho tôi mười hai bộ quần áo khác bị hư hỏng về cấu trúc.

Tháng thứ ba, tôi thuê chung studio với một lớp dạy may, mỗi tuần ba ngày. Cửa không có biển hiệu hào nhoáng, chỉ dán khung giờ hẹn. Tôi bắt đầu đặt lại giá giờ công, tính cả “thử đồ”, “ghi chép tình trạng” và “phương án phục chế” vào chi phí, không chỉ tính thời gian tay thực sự cầm kim chỉ nữa.

Lần đầu tiên tăng giá báo cáo, tôi căng thẳng đến mức đọc đi đọc lại bảy lần trước khi gửi.

Khách hàng trả lời: “Đã nhận, cứ theo đó mà làm.”

Tôi nhìn chằm chằm vào dòng chữ đó và mỉm cười rất lâu.

Cảnh Hành sống ở một thành phố khác. Chúng tôi không biến việc yêu xa thành một cuộc khảo nghiệm lãng mạn. Tháng đầu tiên anh về hai lần, tháng thứ hai vì dự án nên chỉ về một lần; có lần tôi vì thử đồ đột xuất mà hủy hẹn, anh rất thất vọng, tôi cũng không dùng lý do “công việc quan trọng” để lấp li/ếm cảm xúc của anh.

Chúng tôi hẹn lại vào tuần sau, ăn một bữa cơm rất bình thường gần nhà ga.

“Trước đây anh cứ tưởng sống cùng nhau là ổn định hơn.” Anh đặt thìa xuống. “Giờ thấy cũng chưa chắc.”

“Trước đây em cứ tưởng không chuyển đi cùng anh là chứng minh em đủ đ/ộc lập.” Tôi nói. “Sau mới thấy cũng không phải.”

“Vậy bây giờ thì sao?”

Tôi suy nghĩ một chút. “Bây giờ giống như chúng ta đều sống cuộc đời của mình cho rõ ràng trước, rồi xem đoạn nào có thể nối lại với nhau.”

Anh cười. “Nghe không giống tình yêu lắm nhỉ.”

“Vậy anh muốn phiên bản kịch tính hơn à?”

“Không cần, kiểu này sống thực tế hơn.”

Chúng tôi không đặt ngày sống chung tiếp theo. Hợp đồng thuê nhà của anh còn hơn nửa năm, studio của tôi cũng mới bắt đầu ổn định. Thứ chắc chắn được chỉ là hai ngày cuối tuần gặp nhau vào tháng sau, và nếu ai muốn thay đổi, phải báo trước.

Kiểu sắp xếp này trước đây sẽ khiến tôi lo âu. Bây giờ tôi vẫn lo, chỉ là không còn vội vã dùng một đáp án vĩnh viễn để che đậy nó nữa.

Lục Mạn Thanh sau đó đã cất sáu bộ trang phục của buổi triển lãm đầu tiên vào kho đoàn kịch. Chiếc áo khoác xanh lục đậm đã lên sân khấu thêm một lần nữa, sau khi diễn xong, diễn viên đặc biệt nhắn tin cho tôi, nói rằng phần vai giơ lên rất thuận tiện. Chiếc váy lễ phục màu đen không mặc nữa, nhưng đoàn kịch giữ lại làm mẫu phục chế.

Thỉnh thoảng tôi ghé qua dọn dẹp, vẫn có thể nhìn thấy những đường chỉ lược của mình.

Một ngày nọ, Lục Mạn Thanh hỏi tôi có muốn làm buổi triển lãm thứ hai không, chủ đề có thể đổi thành “Cuộc đời thứ hai của trang phục sân khấu”.

Tôi không nhận lời ngay.

Tôi mở lịch, xem số lượng đơn hàng và thời hạn thuê studio, rồi nói: “Đợi em làm xong ba bộ của tháng này, chúng ta hãy bàn về quy mô sau.”

Cô ấy cười bảo dạo này tôi biết tính toán quá.

Tôi cũng thấy vậy.

Trước đây tính toán là liệu một bộ quần áo có kịp xuất xưởng trước thời hạn hay không, sau đó tính toán là liệu mình có trụ được bằng tiền tiết kiệm bốn tháng hay không, còn bây giờ tôi bắt đầu tính toán xem một công việc cần dành bao nhiêu thời gian cho việc thử sai, nghỉ ngơi và quyết định tiếp theo.

Sau khi triển lãm đầu tiên kết thúc, tôi giữ lại một bức ảnh lối vào.

Trong ảnh không có khán giả, chỉ có sáu bộ trang phục được giữ lại từ danh sách phế liệu của nhà máy. Chúng vốn bị coi là không có giá trị sản xuất hàng loạt, và tôi cũng từng coi mười năm kỹ thuật của mình chỉ có ích khi ở trong phòng mẫu.

Giờ đây bức ảnh đó treo cạnh bàn làm việc của tôi.

Nó không nhắc nhở tôi nhất định phải thành công.

Nó chỉ nhắc tôi rằng, buổi triển lãm đầu tiên của tôi thực sự đã dùng những bộ quần áo mà nhà máy không cần; còn thứ mà lần đầu tiên tôi thực sự sở hữu, không phải là những bộ quần áo đó, mà là quyền được quyết định xem công việc tiếp theo của mình nên gọi là gì.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Trúc Mã Không Yêu Tôi

Chương 13.
Tại nhà chàng trai mà tôi thầm thương trộm nhớ, tôi vô tình bắt gặp một cô gái đang quấn khăn tắm. Chắc cô ấy vừa tắm xong, tóc vẫn còn nhỏ nước, hai má ửng hồng. Cửa phòng ngủ chính vẫn mở, bên trong là một khoảng tối mờ ám. Thật khó để tôi không liên tưởng đến những chuyện đã xảy ra giữa bọn họ. Tôi thậm chí còn lờ mờ ngửi thấy chút mùi tanh lợm giọng phảng phất trong không khí. Tiêu Hoài à Tiêu Hoài, chàng trai tôi đã thích mười năm trời, hôm nay đã xảy ra quan hệ với cô gái khác mất rồi. Đoạn tình cảm đơn phương kéo dài đằng đẵng suốt mười năm, đến giây phút này, tôi cuối cùng cũng đã triệt để bỏ cuộc.
22.72 K

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Tấm màn sân khấu cũ đó là do tôi và cả đội bảo trì cùng nhau phục dựng.

Chương 11
Kỹ thuật viên nhuộm phục chế Tô Tĩnh Hòa đã dành nửa năm để xây dựng phương án nhuộm phục chế có thể đảo ngược cho tấm màn kịch cũ bị ẩm mốc và phai màu. Thế nhưng, khi tấm màn được treo trở lại sân khấu, cô phát hiện sổ tay hướng dẫn công việc chỉ còn lại chữ ký của cấp trên, còn bản thuê ngoài thì đã bị xóa mất các bước làm sạch then chốt. Sau khi thử nghiệm nhiệt độ đèn cho buổi công diễn đầu tiên xảy ra hiện tượng loang màu, cô buộc phải đứng trước lựa chọn: hoặc chấp nhận tổn thất do hoãn chiếu, hoàn tiền vé, làm thêm giờ và mất tiền thưởng, hoặc để thành quả phục chế suốt nửa năm trời đối mặt với rủi ro không thể đảo ngược. Cùng với việc khôi phục dần các bức ảnh thi công, ghi chép phiên bản và những bản thảo cảnh báo rủi ro chưa gửi đi, cô cũng bắt đầu yêu cầu chức danh, quyền ký duyệt và tên của đội ngũ mình phải được ghi nhận chính thức vào hệ thống.
0