Chị gái tôi còn mười hai ngày nữa xuất giá, tôi sờ thấy ở đáy rương của chị một tờ giấy không nên ở chỗ đó.
Trong rương vốn chỉ còn lại hai cuộn lụa đỏ thẫm ép phẳng phiu, một bộ trâm bạc mẹ để lại, cùng chiếc đai lưng tôi tối qua mới nhuộm xong cho chị Tô Vãn Tình. Tôi nhấc chiếc đai lên, khe ván gỗ lộ ra một góc mép giấy ố vàng, mỏng dòn, như vỏ dâu phơi quá lửa.
"Lại là sổ sách mẹ để lại phải không?" Chị ngồi dưới cửa sổ kh//âu túi thơm, đầu chẳng buồn ngẩng.
Tôi rút tờ giấy ra, trước tiên thấy hai con dấu cũ đặt cạnh nhau. Bên trái là của họ Tô, bên phải là của họ Cố. Phía trên nữa là năm tháng của mười hai năm trước, tên người mai mối, chữ ký của trưởng bối hai nhà. Ngay chính giữa, nét chữ viết ngay ngắn: con gái thứ hai họ Tô là Lệnh Nghi, đính ước với con trai trưởng họ Cố là Thiếu Hành.
Ngón tay tôi dừng lại ở hai chữ "Lệnh Nghi".
Kim rơi xuống đất, phát ra một tiếng rất khẽ. Chị gái đã đứng ngay bên cạnh tôi, gi/ật lấy tờ hôn thư xem hai lượt, sắc mặt rút đi từng chút một.
Cố Thiếu Hành chính là người mười hai ngày nữa chị sẽ gả cho.
"Hồi đó em còn nhỏ." Chị nói trước, như thể muốn tìm cho tờ giấy này một lối đi ra, "Hay là ai đó chép nhầm?"
Tôi không trả lời. Tôi học pha màu ở xưởng nhuộm, cũng đã chép sổ sách cho cha ba năm. Mực dấu cũ của họ Tô thiên về đỏ sẫm, để lâu sẽ loang ra một vòng viền nâu trong thớ giấy. Hai con dấu trên tờ hôn thư này đều là dấu thật cũ, không phải đóng bổ sung gần đây; mà tên tôi và màu mực các chữ trước sau nhất quán, nét bút cũng không có dấu vết cạo rửa viết lại.
Chị gái thấy tôi chăm chú nhìn dấu, giọng càng thấp hơn: "Đưa cho cha trước đã."
Cha đang ở sân trước xem bánh chàm mới mang đến. Khi chúng tôi trải tờ hôn thư lên bàn sổ, ông chỉ liếc một cái, rồi dùng lòng bàn tay ấn ch/ặt góc giấy.
"Ngày xưa chép sổ bị nhầm." Ông nói.
"Nhầm là nhầm tên, hay nhầm người?" Tôi hỏi.
Cha ngẩng mắt nhìn tôi. "Có khác gì nhau sao? Hôn thư, sính lễ, bát tự ngày nay, viết đều là chị gái con. Nhà họ Cố cưới cũng là Vãn Tình."
Chị gái đứng bên cạnh tôi, hai tay đan vào nhau trước bụng. "Nếu là nhầm, sao nó lại giấu trong rương của con?"
Cha im lặng một lúc, nói có lẽ hồi đó mẹ cất nhầm giấy cũ. Ông đẩy tờ hôn thư về phía ngọn đèn, bảo tôi đi lấy bật lửa.
Tôi không động.
"Hôn kỳ chỉ còn mười hai ngày." Giọng ông không cao, nhưng là cái giọng nhà kế toán quen thuộc — mỗi lần giá th/uốc nhuộm tăng, tàu trễ chuyến, ông đều dùng giọng này ép mọi lựa chọn của mọi người thành một con số. "Một tờ giấy vô dụng, giữ lại chỉ sinh chuyện."
Tôi chăm chú nhìn góc dưới bên phải tờ hôn thư. Nơi đó có một dấu tay màu xám xanh rất nhạt, không phải con dấu, giống như bàn tay từng dính nước nhuộm ấn qua. Mẹ khi còn sống quản sổ sách nhỏ của xưởng nhuộm, thường dùng mực xám xanh đá/nh dấu cho mình nhất.
"Con xin mang về xem trước." Tôi nói.
Cha ấn lòng bàn tay ch/ặt hơn. "Lệnh Nghi."
Chị gái đột nhiên đưa tay, rút tờ hôn thư ra từ dưới tay ông.
"Là tìm thấy trong rương của con." Chị nói, "Ít nhất hãy để con biết tại sao nó ở đó."
Cha nhìn chị, khóe miệng căng một lúc, cuối cùng chỉ nói: "Trước ngày mai thì đ/ốt đi."
Về phòng, chị gái chốt then cửa. Chúng tôi đặt tờ hôn thư ở mép giường, cách nhau một cánh tay. Lẽ ra chị phải thử bộ áo cưới mới đưa đến ngày mai, trong phòng lại chỉ còn tờ giấy cũ kia là chói mắt nhất.
"Nếu thật sự có chuyện khác," chị hỏi tôi, "em muốn làm sao?"
Tôi nghĩ rất lâu. Tôi không phải muốn tranh hôn sự của chị, cũng không muốn biến một tờ giấy mười hai năm trước thành duyên nay. Tôi thậm chí không chắc tờ hôn thư cũ này trước quan phủ còn tính hay không.
"Trước hết tra rõ." Tôi nói, "Tra rõ tại sao nó viết tên em, lại biến thành chị."
Chị gái nhặt cây kim rơi dưới đất, cắm lại vào gối kim. Chị không nói đồng ý, cũng không nói không.
Đêm đó tôi về căn phòng nhỏ của mình, lục ra hai cuốn sổ cũ mẹ để lại. Cuốn thứ nhất ghi th/uốc nhuộm, cuốn thứ hai ghi giao thương buôn b/án. Tôi lần theo năm tháng trên hôn thư tìm về trước, ở góc trang cùng tháng đó thấy dấu tay xám xanh ấy.
Bên dưới chỉ có một dòng chữ cực nhỏ: Nhà họ Cố mở đường thủy phía đông nam, xưởng họ Tô góp ba phần mười cổ phần, thu trước chỗ tàu.
Tôi lật sang trang tiếp theo, phát hiện một năm sau đó, lần đầu tiên tôi được ghi vào sổ học nghề của xưởng nhuộm. Bên cạnh còn có lời phê của mẹ: giá hàng đông đạo ổn định, Lệnh Nghi có thể theo thầy Châu học nhuộm xanh. Đó là vị trí đầu tiên tôi vẫn luôn tưởng là do tự mình mài mò mà có. Thầy Châu tính khí x/ấu, chọn đồ đệ càng kỹ, tôi nhớ năm đó cha chỉ nói một câu "cuối cùng cũng chịu nhận con", chưa từng nhắc chỗ tàu của nhà họ Cố đã giúp xưởng nhuộm tiết kiệm bao nhiêu vốn.
Tôi lật tiếp ba trang. Mấy khoản đơn đặt hàng ngoài trấn vốn lác đác bỗng trở nên dày đặc, hiệu buôn nhà họ Cố mỗi quý đều xuất hiện ở cuối trang. Đồ cưới của chị, vại xanh đầu tiên tôi lãng phí khi học nhuộm, thậm chí ngói nhà mới lợp năm trước, đều như bị tuyến đường thủy mười hai năm trước mở ra kéo lại với nhau.
Ngoài cửa sổ đang có người khiêng rương cưới đi qua, đò/n gỗ va vào khung cửa. Tiếng động ấy khiến tôi bỗng hiểu ra, thứ cha muốn đ/ốt, có lẽ từ đầu chưa bao giờ chỉ là một tờ giấy chép nhầm tên.