Mặt nước ngày Chủ nhật lặng lẽ hơn thường lệ.
Không có huấn luyện viên, không có đồng đội, cũng chẳng có tiếng đồng hồ bấm giây trên bờ. Chỉ có tôi và Chỉ Ninh cùng đẩy thuyền rời khỏi cầu tàu, theo thói quen suốt ba năm qua, mỗi người gõ nhẹ hai cái lên mạn thuyền.
Cậu ấy ngồi phía trước hỏi: "Còn nhớ ám hiệu cũ không?"
"Nhớ."
"Vậy lần này dùng xong là nghỉ hưu nhé."
Tôi bật cười. "Nghe cứ như đang tổ chức tang lễ ấy."
"Cậu đừng có nói gở như thế."
Sau khi bắt nhịp chèo, cơ thể tôi còn nhanh hơn cả n/ão bộ trong việc tìm lại nhịp điệu của cậu ấy. Mười nhịp, hai mươi nhịp, góc vai Chỉ Ninh ép sang trái, nhịp thở phập phồng nơi sống lưng, tất cả đều quen thuộc như một con đường đã khắc sâu trong tâm trí.
Hai trăm mét đầu, chúng tôi thậm chí còn chèo trơn tru hơn cả bài tập tốt nhất của tuần trước.
Đến mét thứ hai trăm năm mươi, cậu ấy hô: "Đổi!"
Trước đây tôi thường sẽ nhanh hơn nửa nhịp vì sợ rằng sau khi cậu ấy tăng tốc, mình sẽ không theo kịp.
Lần này tôi chờ.
Mái chèo của cậu ấy c/ắt vào nước trước, tôi mới chèo theo sau.
Thân thuyền không hề chao đảo.
Cái nhịp đổi tay mà chúng tôi đã luyện cả tháng trời vẫn chưa sửa xong, nay lại hoàn thành trọn vẹn trong một buổi tập không tính thời gian.
Tôi bất chợt muốn khóc, chỉ có thể hít thở mạnh hơn.
Một trăm mét cuối, cậu ấy không hô nước rút. Tôi cũng không. Cả hai duy trì tần suất chèo ổn định, đưa thuyền lướt qua phao tiêu ở vạch đích như thường lệ.
Sau khi dừng chèo, Chỉ Ninh nói: "Hóa ra có thể cán đích chậm rãi như thế này."
Tôi gác mái chèo lên đầu gối. "Trước đây chúng ta sợ thua quá."
"Giờ tớ vẫn sợ," cậu ấy nói.
Chúng tôi để thuyền trôi giữa dòng. Lần đầu tiên cậu ấy kể rõ hơn về tình hình gia đình. Sau khi xưởng in đóng cửa, mẹ cậu ấy phải tìm việc mới, còn dự án trên tay bố cậu ấy chỉ đủ chi trả sinh hoạt phí hằng ngày. Học phí học kỳ đầu, chi phí ăn ở, thiết bị và đi lại tại học viện ở xa, dù có nhận được trợ cấp thì vẫn phải đóng trước một khoản tiền mà gia đình cậu ấy không thể xoay xở nổi.
"Tớ không phải là mãi mãi không đi," cậu ấy nói, "Tớ chỉ là hiện tại không đi thôi."
"Vậy nếu năm sau cậu muốn nộp đơn thì sao?"
"Tớ sẽ tự nộp. Lúc đó tớ sẽ báo cho cậu trước."
Tôi cười.
Tôi cũng nói với cậu ấy rằng, nhận được đề cử không có nghĩa là tôi nhất định sẽ vào học viện đó. Tôi còn phải cân nhắc học bổng, chương trình học và khả năng chi trả của gia đình. Trước đây hai đứa cứ nói "cùng nhau đi", nhưng thực tế có bao nhiêu điều chúng tôi chưa hề tính đến.
Chỉ Ninh quay đầu nhìn tôi. "Cậu đang ám chỉ là có thể sẽ không đi sao?"
"Tớ đang nói cho cậu biết rằng tớ sẽ tự quyết định."
Cậu ấy im lặng hai giây rồi nói: "Được."
Khi trở lại bờ, chúng tôi không chụp ảnh, cũng không nhờ ai ghi lại thành tích. Sau khi nhấc thuyền lên giá, Chỉ Ninh nhét đôi găng tay cũ vào túi mình, không còn cố ép tôi nhận lấy nữa.
"Cái này tớ giữ lại," cậu ấy nói, "Sau này dạy lớp trẻ em có khi còn dùng đến."
Tôi gật đầu.
Cậu ấy không hề tặng lại tất cả những thứ liên quan đến chèo thuyền cho tôi như thể muốn chứng minh việc rút lui của mình là dứt khoát. Điều đó khiến tôi thấy nhẹ nhõm hơn bất kỳ lời xin lỗi nào.
Trước khi rời kho thuyền, tôi chạm tay vào mũi chiếc thuyền đôi đó.
Chúng tôi không thắng bất kỳ ai trong buổi tập cuối cùng này.
Nhưng đó là lần đầu tiên sau ba năm, chúng tôi không cần dùng chung một vạch đích để chứng minh tầm quan trọng của nhau.
Sau khi kéo thuyền lên bờ, hai đứa theo thói quen mỗi người một đầu cọ rửa đáy thuyền. Chỉ Ninh ngồi xổm bên ghế trước, đột nhiên hỏi tôi: "Sau này cậu có nhớ con thuyền này rõ hơn nhớ tớ không?"
"Không. Thuyền đâu có mời tớ đi ăn mì."
Cậu ấy cười đến mức suýt làm rơi vòi nước xuống đất.
Cười xong, cậu ấy điều chỉnh bàn đạp chân về mức mặc định. Đó là việc mà trước đây sau mỗi trận đấu chúng tôi đều lười làm, cứ ngỡ lần sau vẫn là hai đứa ngồi. Lần này cậu ấy chỉnh rất tỉ mỉ, ngay cả ốc vít cố định cũng được vặn ch/ặt lại.
Tôi đứng bên cạnh nhìn, không ngăn cản.
"Nhóm tiếp theo liệu có làm nó lộn xộn không nhỉ?" cậu ấy hỏi.
"Chắc chắn là có."
"Vậy thì đó cũng không phải chuyện của chúng ta nữa."
Cậu ấy nói rất bình thản. Nhưng ngay khoảnh khắc đó, tôi cảm nhận được một sự kết thúc thực sự: không phải là đóng băng ký ức, cũng không phải là hứa hẹn tương lai mãi không đổi thay, mà là chấp nhận rằng vị trí này rồi sẽ có người tiếp quản.
Trước khi đi, chúng tôi x/é một góc của miếng dán đội cũ trên giá thuyền, rồi quyết định phần còn lại để giáo viên quản lý thiết bị xử lý. Ngay cả việc chia tay cũng không cần chúng tôi phải tự tay làm hết.
Khi đẩy thuyền lên tầng giá cao nhất, chúng tôi cùng hô một tiếng "Một, hai, lên". Đó là khẩu lệnh bình thường nhất khi khiêng thuyền, suốt ba năm qua không biết đã hô bao nhiêu lần. Tôi chợt nhận ra, rất nhiều mảnh ghép cuộc sống chung thực chất đều ẩn giấu trong những âm thanh tầm thường ấy. Tương lai dù không còn chung thuyền, tôi cũng không cần phải xóa bỏ chúng; chỉ cần đừng dùng chúng để bắt đối phương phải làm theo quyết định của mình nữa là được.
Sau khi về nhà, tôi không ghi thành tích của buổi tập này vào hồ sơ đề cử, mà chỉ viết trong sổ nhật ký tập luyện của mình dòng chữ: "Đổi tay hoàn thành". Nó không mang lại điểm số nào cho việc học, nhưng lại là dòng ghi chép mà tôi muốn lưu giữ nhất.
Tôi khép trang sổ lại.