Ngày thứ hai khi tôi đến căn nhà cũ, Cố Viễn đã phân loại những xấp giấy trong thùng vào các bìa hồ sơ trong suốt. Xấp dày nhất là bảng phân ca của bốn năm trước - không phải của tôi, mà là những tờ giấy anh dùng để ghi lại thời gian chăm sóc ông nội khi ông nằm viện.
Tôi từng xem qua vài tờ, nhưng chưa bao giờ thấy trọn vẹn cả một tháng. Sáu giờ sáng đưa cơm, mười giờ đi phục hồi chức năng và khám b/ệnh, chiều xoay ca, tối về nhà, bên cạnh còn kẹp thêm thời gian làm công việc nhiếp ảnh b/án thời gian. Mép giấy có rất nhiều nét bút bị sửa đi sửa lại, có những ngày anh thậm chí chỉ ngủ được hai tiếng.
“Lúc đó anh bận đến mức này sao?” tôi hỏi.
Cố Viễn lật xấp biên lai qua cho tôi xem. “Sau đó thuê được người chăm sóc ban ngày, anh mới đỡ hơn một chút.”
Trong phiên bản ký ức của tôi, anh luôn nói “anh xử lý được”, nên tôi cứ ngỡ anh chỉ lấy ông nội làm cái cớ để từ chối bàn về tương lai. Giờ đây khi xấp giấy phân ca được trải ra, ít nhất có những ngày ngay cả việc ăn uống cũng như bị nhét vội vào những kẽ hở thời gian.
“Tại sao anh không nói với em sớm hơn?”
“Nói rồi thì có gì khác biệt không?” Anh ngồi bên cửa sổ, làm phẳng một tờ bảng biểu đã bị ố vàng vì cà phê, “Lúc đó em đã đang đợi phản hồi từ công ty ở nơi khác rồi.”
Tôi nhìn thẳng vào anh ngay lập tức. “Anh biết sao?”
Tay Cố Viễn khựng lại trên tờ giấy.
Tôi chưa bao giờ chính thức nói với anh. Khi đi phỏng vấn cho vị trí ở nơi khác, tôi chỉ nói gần đây có vài dự án cần bàn bạc; sau khi chính thức nhận việc, tôi thậm chí đợi đến ba ngày trước khi chuyển đi mới mở lời. Tôi luôn tự nhủ với bản thân rằng, là vì hoàn cảnh gia đình anh quá rối ren, tôi không muốn tăng thêm áp lực cho anh.
“Làm sao anh biết?” tôi hỏi.
“Em kẹp vé xe dưới miếng nam châm tủ lạnh,” anh nói, “Trên đó có thành phố phỏng vấn và ngày tháng.”
Tôi nhắm mắt lại, không nhịn được mà bật cười, cười chính sự che giấu vụng về của mình năm đó. Hóa ra điều tôi tưởng mình giấu rất kỹ, lại sớm đã lộ ra ở nơi bình thường nhất.
“Vậy là anh luôn biết em có thể sẽ đi?”
“Biết em đang tìm cơ hội, chứ không biết em đã nhận lời.”
Tôi không phản bác. Câu nói đó khớp hoàn hảo với nỗi uất ức trong ký ức của tôi. Bốn năm trước, điều khiến tôi gi/ận nhất là Cố Viễn chưa bao giờ hỏi tôi có muốn ở lại không; nhưng nếu ngay cả chuyện đã quyết định rời đi mà tôi cũng trì hoãn đến phút cuối mới nói, thì anh làm gì có cơ hội để hỏi cho trọn vẹn.
Chúng tôi phân loại giấy phân ca theo tháng. Ở giữa kẹp một tờ hóa đơn thanh toán phí đỗ xe b/ệnh viện, mặt sau có nét chữ của Cố Viễn năm đó: “Nếu Niệm Thanh thực sự đi nơi khác, đừng ngăn cản.”
Tôi chỉ vào dòng chữ đó. “Cái này là sao?”
Anh liếc nhìn, vành tai hơi đỏ lên. “Lúc đó sợ mình bốc đồng.”
“Anh sợ gì?”
“Sợ em vừa nói đi, anh sẽ bảo em ở lại.”
Rào chắn công trình bên ngoài bị gió thổi kêu “pạch” một tiếng, cả hai chúng tôi cùng im lặng. Đây chẳng phải bằng chứng lãng mạn gì cả. Nó thậm chí không thay đổi được sự thật là sau đó anh thực sự chẳng nói gì. Nhưng nó khiến tôi lần đầu tiên nhìn thấy, sự im lặng của anh không hoàn toàn là lạnh nhạt, mà còn có cả sự vụng về khi anh không muốn đ/è nặng trách nhiệm chăm sóc của mình lên vai tôi.
Buổi chiều, chúng tôi bàn giao phần liên quan đến quyền riêng tư của ông nội cho Cố Viễn, tách biệt khỏi các khoản chi tiêu chung. Trong sổ sách có tiền thuê nhà, điện nước, tiền cát vệ sinh cho mèo và phí đi lại mà tôi đã ứng trước, mỗi khoản đều có lịch sử chuyển khoản đi kèm. Tính toán đến cuối cùng, Cố Viễn không hề n/ợ tôi một khoản tiền lớn nào, và tôi cũng chưa từng gánh vác cho anh một áp lực nào đủ để gọi là sự hy sinh.
Điều này lại càng khiến tôi khó chịu hơn. Không ai n/ợ ai, cuộc chia ly bốn năm trước không thể đơn giản đổ lỗi cho một người.
Tôi đóng bìa hồ sơ lại, hỏi anh: “Nếu lúc đó em nói với anh sớm một tháng rằng công việc đã định rồi, anh sẽ thế nào?”
Trong xấp giấy phân ca còn kẹp một tờ phiếu khám b/ệnh của con mèo. Khoảng thời gian đó Cố Viễn ban ngày chạy b/ệnh viện, tối lại phải đưa con mèo già đi tái khám, tôi từng đi thay anh hai lần, sau đó liền ghi nhớ chuyện đó như bằng chứng cho thấy mình đã giúp anh chống đỡ cuộc sống. Thế nhưng mặt sau tờ giấy lại liệt kê số tiền xe và tiền th/uốc anh chuyển lại cho tôi, thời gian khớp hoàn toàn. Tôi đặt hai tờ giấy cạnh nhau, đột nhiên cảm thấy thật nực cười: chúng tôi năm đó ngay cả vài chục tệ cũng chuyển qua chuyển lại cho nhau, vậy mà lại có thể trì hoãn vấn đề đi hay ở thực sự quan trọng đến ngày cuối cùng.
“Chúng ta rất giỏi tính toán những khoản nhỏ,” tôi nói.
Cố Viễn nhìn xấp giấy đó. “Những khoản lớn lại chẳng dám tính.”
Tôi không tiếp lời bằng một câu đùa, chỉ xếp tờ phiếu khám b/ệnh vào bìa hồ sơ của anh. Câu nói này đã quá chuẩn x/ác.
Cố Viễn nhìn ra sân sau đã bị phá dỡ một nửa, một lúc sau mới trả lời: “Ít nhất anh sẽ nói chuyện rõ ràng với em xem anh có thể đi không, em có sẵn sàng yêu xa không, chứ không phải cả hai đều tự đoán câu trả lời cho đối phương.”
Tôi gật đầu, không hỏi thêm về giả thiết. Bốn năm sau mới hỏi “nếu như” thì chẳng có tác dụng thực tế nào, nhưng nó đã làm rõ một điều - tôi không đơn phương bị bỏ lại, anh cũng không đơn phương bị vứt bỏ. Chúng tôi đều dùng lý do của riêng mình để giấu quyết định đi đến phút cuối cùng.