Biển hiệu của tiệm vải Thụy Phong đã phai màu, chỉ còn lại nửa bên sơn vàng. Khi tôi đến phố Trường Bình, cửa tiệm mới vừa mở. Trước cửa không có tiểu nhị đón khách, chỉ có một người phụ nữ mặc áo ngắn màu xám tro đang đứng trên ghế gỗ, di chuyển chiếc chậu hứng nước mưa dột từ đêm qua ra ngoài. Thấy tôi đứng bên cửa, bà hỏi trước là m/ua vải hay đến thu sổ sách.
"Tôi tìm chưởng quầy Lâm."
Bà bước xuống khỏi ghế gỗ. "Là tôi đây."
Tôi báo tên mình, nhắc đến mẹ là bà Thẩm. Vẻ khách sáo trên gương mặt Lâm Tuyết Nương lập tức nhạt đi.
"Hầu phủ cuối cùng cũng nhớ đến tiệm này rồi sao?"
Tôi lấy danh mục hồi môn ra. "Tôi không đến để thu hồi tiệm. Tôi muốn xem khế ước và sổ sách trước."
"Nếu khế ước nằm trong tay tôi, tôi đã đóng cửa tiệm từ lâu rồi." Bà xoay người đi vào trong. "Cô Cố này, cứ cách hai năm nhà các người lại cử một người đến hỏi, hỏi xong lại bảo tôi gắng gượng thêm mấy tháng. Tôi không có thời gian cùng cô lật lại chuyện cũ."
Tôi đi theo vào. Vải vóc trong tiệm không ít, nhưng bày biện lộn xộn, lãnh, lụa, vải bông trộn lẫn một hàng, dựa vào tường còn chất mấy xấp vải thô bám bụi. Sau quầy dán ba tờ giấy n/ợ, trong đó một tờ ghi n/ợ tiền hàng của xưởng nhuộm chưa thanh toán.
Lâm Tuyết Nương đặt cuốn sổ trước mặt tôi. "Xem đi. Năm ngoái lỗ ba mươi tám lượng, năm nay đến tháng tư lại lỗ mười bảy lượng. Hầu phủ nếu thực sự muốn thu hồi, trước hết hãy bù vào số n/ợ đã."
Tôi lật vài trang, nhanh chóng nhìn ra điểm bất thường. Thụy Phong mỗi tháng đều gửi vải mịn đến kho kim chỉ của Hầu phủ, giá thấp hơn giá thị trường một phần, nhưng trên sổ lại ghi là đã nhận bạc mặt. Thế nhưng tôi quản lý kho kim chỉ ba năm, chưa từng thấy bất kỳ khoản bạc nào trả cho Thụy Phong.
"Số bạc này ai lấy rồi?"
Lâm Tuyết Nương dùng đầu ngón tay điểm vào ba chữ "Chuyển sổ phủ". "Ông Trâu mỗi quý đến đối chiếu một lần, nói rằng tiệm vốn dĩ là của Hầu phủ, vải gửi vào phủ coi như trừ tiền thuê."
"Tiền thuê gì?"
"Mặt bằng tiệm là bất động sản hồi môn của phu nhân Thẩm. Hầu phủ các người nói sau đó đã thuộc về công quỹ, nên bảo tôi nộp tiền thuê."
Tôi lại lật ngược về trước. Trước khi mẹ qu/a đ/ời, trên sổ chưa bao giờ có cột "tiền thuê". Năm thứ hai sau khi bà mất, nó mới đột nhiên xuất hiện.
Lâm Tuyết Nương thấy tôi dừng lại ở trang đó, khoanh tay trước ngựk. "Nếu cô chỉ đến để chứng minh Hầu phủ chiếm tiện nghi, thì giờ đã chứng minh xong rồi, có thể đi được rồi."
Tôi khép sổ lại. "Bà có n/ợ tiền công thợ thêu không?"
Bà nhướng mày. "Ai nói với cô?"
"Trong phủ n/ợ ba người hai tháng. Trên sổ của Thụy Phong lại có một khoản 'thay trả tiền công thêu', tôi muốn biết có phải cùng một nhóm người không."
Bà dẫn tôi ra gian sau. Ở đó, hai người phụ nữ đang tháo một xấp gấm cũ đã bạc màu, c/ắt lấy những phần vải biên còn dùng được. Thấy tôi, kéo trong tay họ đều chậm lại.
Lâm Tuyết Nương nói: "Ở đây cũng n/ợ một tháng. Tôi đã ứng trước nửa tháng, còn lại phải đợi tiền hàng."
Tôi đứng ở gian sau một lúc, chợt hiểu ra cái gọi là "lỗ" của Thụy Phong không hoàn toàn do làm ăn thất bại. Nó gửi vải giá rẻ vào Hầu phủ, lại còn bị ghi thành tiền thuê phải nộp; trong khi tiền hàng bên ngoài vẫn phải trả như thường. Nếu tính như vậy, b/án được bao nhiêu cũng chỉ càng n/ợ nần sâu hơn.
"Tại sao bà còn làm?" tôi hỏi.
Lâm Tuyết Nương liếc nhìn tôi. "Tôi học tính toán ở đây từ năm mười bảy tuổi. Khi phu nhân Thẩm còn sống, bà nói người làm công không thể đợi chủ nhà tâm trạng tốt mới được nhận tiền. Sau khi bà mất, nếu tôi cũng đi, mấy người này biết đi đâu đòi tiền công cũ?"
Bà nói rất bình thản, không có ý muốn tôi phải cảm động. Ngược lại, tôi cảm thấy đứng ngồi không yên.
"Cho tôi mượn danh sách gửi hàng vào phủ ba năm gần đây để chép."
"Không cho mượn bản gốc."
"Tôi chép tại đây."
"Giấy tự m/ua."
Tôi gật đầu.
Chiều hôm đó, tôi ngồi ở Thụy Phong suốt hai canh giờ. Ban đầu Lâm Tuyết Nương không thèm để ý đến tôi, sau đó thấy tôi đối chiếu từng xấp vải kho kim chỉ đã nhận, bà mới lấy cuốn sổ cũ khác ra. Trong đó kẹp một bản sao khế ước cửa hàng đã ngả vàng, chủ khế vẫn là mẹ.
"Khế gốc đâu?" tôi hỏi.
"Sáu năm trước kế toán Hầu phủ thu đi, nói là để làm lại sổ sản nghiệp."
"Ai đến thu?"
"Ông Trâu."
Tôi ghi lại ngày tháng. Đúng là ba tháng sau khi mẹ qu/a đ/ời.
Trước khi đi, Lâm Tuyết Nương đột nhiên gọi tôi lại. "Cô Cố."
Tôi quay đầu.
Bà kéo mở nửa xấp lụa xanh màu sắc ảm đạm trên quầy. "Cô quản kho kim chỉ, có biết xem vải không?"
Tôi sờ lên mặt vải. Sợi dọc căng nhưng sợi ngang lại lỏng, màu nhuộm còn không át được màu trắng của nền. "Lô này không phải hàng Giang Nam, là hàng nhái của xưởng nhỏ phía tây thành. Nếu giá nhập tính theo hàng Giang Nam, cô bị người ta thu đắt rồi."
Lâm Tuyết Nương nhìn chằm chằm vào ký hiệu hàng trên góc vải, sắc mặt trầm xuống.
Tôi không nói thêm gì nữa. Bà đã cầm lấy bàn tính, hạt châu va vào nhau lách cách nhanh chóng.
Sáng hôm sau, khi tôi còn chưa ra khỏi cửa, tiểu học đồ của Thụy Phong đã mang đến một gói giấy. Bên trong là bản sao danh sách gửi hàng vào phủ ba năm, kèm theo một dòng chữ của Lâm Tuyết Nương: Lụa xanh đã trả lại, tiết kiệm được bảy lượng bốn tiền.
Bà Chu xem xong cười nói: "Chưởng quầy Lâm chịu đưa sổ cho cô rồi à?"
"Chỉ đưa bản sao thôi."
"Thế cũng đã là hiếm có rồi."
Tôi ghi bảy lượng bốn tiền đó vào bên lề tờ giấy, không tính vào của hồi môn của mẹ. Đó là số tiền Thụy Phong tự tiết kiệm được.
Nhưng lần đầu tiên tôi cảm thấy, sổ sách này không phải càng tra càng trống rỗng. Ít nhất trong một cửa tiệm, vẫn còn có người coi từng xấp vải, từng đồng tiền công đều là những con số chân thực.