Ngày cha rời kinh thành cũng là lúc phòng khế ước gửi đến vòng quyết toán cuối cùng.
Tiệm quần áo Nam Kiều năm đó b/án được một trăm tám mươi lượng. Sổ sách chứng minh được sáu mươi lượng trong đó dùng cho tiền th/uốc thang khi mẹ b/ệnh, bốn mươi lượng bù vào khoản v/ay Đông lang mà mẹ đã đồng ý, tám mươi lượng còn lại rơi vào chi tiêu của nhị phòng, không có ghi chép hoàn trả. Văn thư trừ n/ợ của khách sạn thiếu một người làm chứng, quan phủ không muốn phán hoàn trả chỉ dựa trên bản chép sổ sách. Tiệm hương liệu thì không cần phải nói, khế ước cũ không tìm thấy, chỉ có một dòng tên trong sổ tổng.
Thư lại hỏi tôi có muốn khiếu nại riêng cho khách sạn và tiệm hương liệu hay không.
Tôi nhìn xấp giấy trên bàn.
Nếu tiếp tục khiếu nại, có lẽ có thể tìm ra thêm nhân chứng, nhưng cũng có thể chẳng có gì cả. Cha đã chuẩn bị rời đi, nhà mẹ đẻ của mẹ kế chắc chắn sẽ tìm ra một cách giải thích khác cho tiệm hương liệu. Quan trọng hơn, trong tay tôi không có văn thư hoàn chỉnh nào có thể kết nối chắc chắn hai khoản đó với mẹ.
"Không khiếu nại," tôi nói.
Thư lại x/ác nhận lại: "Cô từ bỏ phần hiện tại không thể chứng minh, không ảnh hưởng đến số bạc cần hoàn trả từ Thụy Phong và Nam Kiều."
"Phải."
Tôi đóng dấu lên giấy.
Khi nét bút hạ xuống, tôi vẫn thấy đ/au nhói. Nếu tính cả khách sạn và tiệm hương liệu, số bạc đó vượt xa giá trị của Thụy Phong. Tôi không phải không muốn, chỉ là không muốn biến chữ "nên là" thành "chắc chắn là".
Kết quả cuối cùng, tôi lấy lại được tiệm vải Thụy Phong, tám mươi lượng cần hoàn trả từ Nam Kiều, và hai mươi ba lượng sáu tiền tiền vải Hầu phủ đã lấy không trong ba năm qua. Sau khi trừ đi tiền lương n/ợ phải trả theo quyết định của quan phủ, tiền hàng đến hạn của Thụy Phong và sáu lượng tôi đã ứng trước, số tiền mặt thực sự còn lại trong tay chưa đầy ba mươi lượng.
Lâm Tuyết Nương xem xong con số, câu đầu tiên bà nói là: "Ít hơn ta đoán."
Bà Chu thì hỏi: "Tiền công khi nào phát?"
"Hôm nay."
Ba chúng tôi trở về thẳng Thụy Phong.
Tôi chia số bạc quan phủ trả lại thành ba phần: lương n/ợ của ba thợ thêu trong phủ, lương n/ợ của hai thợ may trong tiệm, và tiền hàng đến hạn của xưởng nhuộm. Lâm Tuyết Nương dùng bàn tính đối chiếu lại, mỗi phong bì đều ghi rõ số tiền thực trả.
Khi bà Bành nhận được số tiền lương còn thiếu, vành mắt bà đỏ lên, nhưng lại hỏi tôi trước: "Cô nương, tiệm sau này vẫn mở chứ?"
"Mở."
"Tiền lương vẫn như cũ sao?"
Tôi không trả lời ngay.
Nếu Thụy Phong vẫn làm như cũ, chỉ có tiếp tục lỗ. Mấy ngày nay chúng tôi đã tính toán lại sổ sách ba năm qua, vấn đề lớn nhất không phải là vải không b/án được, mà là nhập hàng quá tạp, cung cấp cho Hầu phủ không có tiền mặt, và thợ thêu ở gian sau được thuê theo tháng, ngay cả mùa vắng khách cũng phải trả lương cố định.
"Tôi muốn đổi thành tiền gốc cộng thêm chia phần," tôi nói, "Mỗi tháng bảo đảm một khoản tiền lương cơ bản, sau khi b/án được hàng thêu sẽ chia theo món. Sổ sách mỗi tháng mở một lần, các bà đều có thể xem."
Bà Hứa cau mày: "Nếu không b/án được thì sao?"
"Tiền gốc vẫn có. Nhưng sẽ ít hơn trước."
Họ nhìn nhau, tôi không thúc giục.
Lâm Tuyết Nương ở bên cạnh bồi thêm một câu: "Thử trước ba tháng. Ai không muốn, có thể nhận đủ lương n/ợ rồi rời đi, không trừ tiền."
Bà Chu là người đầu tiên nói ở lại. Bà Bành cũng gật đầu. Bà Hứa suy nghĩ rất lâu, hỏi liệu có thể mang mẫu hoa văn của mình đến để tự tiếp khách không.
"Được," tôi nói, "Nhưng sổ sách b/án ra phải ghi chép chung."
Lúc này bà mới đồng ý.
Chạng vạng, huynh trưởng tranh thủ đến một chuyến trước khi đoàn xe ra khỏi thành. Anh đặt một túi vải nhỏ lên quầy, bên trong là năm lượng bạc.
"Khoản lần thứ hai đi kinh thành, ta trả đợt đầu."
Tôi nhìn anh: "Cha có biết không?"
"Không biết."
"Vậy huynh tự ghi nhớ lấy," tôi đẩy cuốn sổ mới của Thụy Phong về phía anh, "Muội cũng ghi."
Anh cười gượng gạo: "Muội không thể nói một câu 'nhận lấy' sao?"
"Nhận lấy." Tôi đếm kỹ số bạc, viết vào cột 'Minh Hành hoàn trả khoản tạm mượn', "Năm lượng."
Anh nhìn nét chữ của tôi, đột nhiên nói: "Cha hôm nay khi ra khỏi thành vẫn còn m/ắng muội."
"M/ắng gì?"
"Nói muội tính toán nửa ngày, cuối cùng chỉ lấy được một cái tiệm vải rá/ch nát đang lỗ vốn."
Tôi ngẩng đầu nhìn Thụy Phong. Mái nhà còn hai chỗ dột, một góc quầy bong tróc, biển hiệu ngoài cửa chỉ còn nửa bên sơn vàng. Câu này quả thực không oan cho tôi.
"Ông ấy nói cũng không hoàn toàn sai."
Huynh trưởng bị tôi chặn họng, im lặng hồi lâu.
Đoàn xe sắp ra khỏi thành, anh không thể ở lại lâu. Trước khi đi, anh đặt chiếc nghiên mực nứt góc của mẹ lên quầy.
"Đây không phải là trả n/ợ," anh nói, "Mẹ cho ta, giờ ta cho muội dùng."
Tôi đẩy chiếc nghiên mực lại: "Vậy huynh tự giữ lấy."
Anh không kiên trì nữa.
Sau khi anh đi, Lâm Tuyết Nương hỏi tôi: "Có hối h/ận vì từ bỏ khách sạn không?"
"Hối h/ận."
Bà nhướng mày.
"Hối h/ận với không khiếu nại là hai chuyện khác nhau." Tôi đưa phong bì tiền công cuối cùng cho bà Chu, "Tôi có thể cảm thấy tiếc nuối, nhưng cũng có thể không lấy những thứ không đủ bằng chứng."
Bà Chu nhận tiền, cười tôi cuối cùng cũng biết nói một câu giống giọng chưởng quầy.
Tôi cúi đầu nhìn sổ sách mới. Trang đầu tiên chỉ có ba dòng thu nhập, nhưng bên dưới đã viết đầy những khoản phải chi.
Cái tiệm này thực sự đang lỗ vốn.
Và từ hôm nay trở đi, nó cuối cùng cũng không còn phải sống dựa vào lòng tốt của nhà ai, hay câu nói "đồ của nhà mình" của bất kỳ kẻ nào nữa.