Tôi ở lại tháp phong ấn đến hai giờ sáng, mới vẽ xong vòng đầu tiên cho những chữ thiếu ở trang thứ năm.
Các bản dịch chú giải qua các thời đại bị khóa trong tủ đ/á dưới chân tháp, giấy đã trở nên giòn vì hơi muối, mỗi lần lật giở lại rơi ra những lớp bột trắng mịn. Tập sớm nhất cách nay đã hơn hai trăm bảy mươi năm, người chép thuê từng vẽ một ký hiệu hình miệng rất nhỏ bên cạnh trang thứ năm, nhưng các phiên bản sau này lại tô nó thành một dấu chấm. Sau đó năm mươi năm, vị trí đó biến mất hoàn toàn.
Tễ Xuyên mang giúp tôi thùng tài liệu cũ thứ hai. Tôi không để anh chạm vào văn bản gốc, chỉ bảo anh đọc ra năm bàn giao của từng tập một.
"Em vẫn không tin tôi," anh nói.
Tôi chép lại niên đại lên giấy. "Anh muốn tôi tin phần nào bây giờ?"
Anh im lặng.
Trong tháp chỉ còn tiếng giấy m/a sát và tiếng sấm rền từ biển xa. Đêm chúng tôi chia tay ba năm trước, anh cũng từng dùng sự im lặng tương tự. Tôi hỏi anh có người khác không, anh bảo không; tôi hỏi anh có phải không còn yêu nữa không, anh bảo "mọi chuyện phức tạp hơn em nghĩ". Khi đó tôi gh/ét nhất câu này, bởi vì từ "phức tạp" bị anh dùng làm cánh cửa để không phải giải thích.
Giờ đây cánh cửa đó thực sự đang đứng trước mặt tôi.
Tôi tìm thấy bản chép lời thề của người bảo chứng nhân loại đầu tiên. Trên đó không có chữ "hiến thân", chỉ có một câu dang dở "lấy danh thừa...". Phiên bản của người thứ hai biến thành "lấy mệnh thừa...". Hai chữ chỉ khác nhau một nét, nhưng trong ngôn ngữ thành cổ, "danh" chỉ thân phận và trách nhiệm công khai, còn "mệnh" mới chỉ sinh mạng.
"Có người đã sửa," tôi nói.
Tễ Xuyên nhìn vào góc trang giấy. "Cũng có thể là chép sai."
"Một lần thì có thể. Sáu đời liên tiếp đều sai lệch về cùng một hướng, còn cạo đi những chú giải phía trước, thì không giống t/ai n/ạn chút nào."
Tôi nhờ người canh tháp mang bản vẽ đo đạc vết triều đến. Tường trong tháp phong ấn mỗi khi khế ước giữ triều được cập nhật, đều để lại những vết muối hình vòng. Theo cách nói hiện tại, sau khi người Canh giữ chấp nhận sự h/iến t/ế của người bảo chứng, sức gió lẽ ra phải lập tức trở về bằng không, độ cao vết triều cũng nên đồng nhất. Nhưng ghi chép thực tế lại cho thấy, ba vết triều sớm nhất đều giảm xuống sau ngày công bố công khai, những đời sau áp dụng h/iến t/ế ngược lại xuất hiện vạch nước cao hơn.
Tôi đối chiếu từng năm một.
"Năm thứ một trăm lẻ hai, không ai t/ử vo/ng, sức gió giảm."
"Năm thứ một trăm hai mươi bảy, người bảo chứng b/ệnh mất sau nghi thức ba ngày, sức gió kéo dài bảy ngày."
"Năm thứ một trăm năm mươi ba, ghi chép lễ tế viết 'người Canh giữ chấn nộ', năm đó đê phía Nam bị phá hủy hoàn toàn."
Tễ Xuyên đứng sau lưng tôi hai bước, giọng rất thấp. "Nghị sự đoàn nói đó là vì vật tế không thuần khiết."
Tôi quay đầu lại. "Anh tin à?"
"Trước đây không có tài liệu nào khác."
"Bây giờ thì có rồi."
Tôi cầm phấn vẽ hai dòng thời gian lên tường, một là công bố công khai, một là h/iến t/ế. Ghi chép hướng gió của những đời đầu rõ ràng thay đổi theo công bố; sau khi h/iến t/ế bắt đầu, hiệu quả ngược lại không ổn định.
Ngay khi tôi đọc ra bốn chữ "lấy danh thừa nhận", cửa gió lại xoay về hướng Đông Bắc. Lần này chiếc chuông cũ trên đỉnh tháp không kêu, trái lại, chiếc lưỡi đồng không bao giờ sử dụng ở phía dưới cùng lại khẽ gõ một tiếng.
Tễ Xuyên ngẩng đầu. "Đó là gì?"
"Âm thanh x/ác nhận của khế ước cổ. Chỉ khi nghĩa vụ của hai bên được tiếp cận chính x/ác thì nó mới vang lên."
Sắc mặt anh càng trắng bệch.
Tôi nhìn chằm chằm vào anh. "Lần đầu tiên anh nhận vòng bảo chứng, không có ai đọc đoạn này sao?"
"Không. Họ chỉ bắt tôi ký bản dịch tiêu chuẩn."
"Anh có hỏi trước khi ký không?"
"Có hỏi."
"Câu trả lời?"
Anh nhìn cửa gió. "Nghị trưởng nói, công việc của người bảo chứng là khiến thành phố tiếp tục tồn tại."
Tôi đặt bút xuống. Câu này nghe rất cao thượng, cũng rất tiện lợi. Nó có thể nhét bất cứ cái giá nào chưa được giải thích vào cơ thể của một con người.
Khi trời gần sáng, tôi tìm thấy một mảnh giấy mỏng hơn các chú giải khác. Cạnh giấy có vết ch/áy sém, trên đó chỉ còn sót lại nửa câu: "Nếu thành lấy miệng chúng thừa nhận cũ trục chi... người Canh giữ..."
Hai chữ "cũ trục" khiến tôi dừng lại.
Sử ký chính thức của thành phố Dư Triều chưa bao giờ viết về việc trục xuất. Sử thành chỉ nói tộc người Canh giữ đã "tự nguyện rời bờ" từ trăm năm trước, nhường mũi đất lại cho nhân loại xây cảng.
Tôi đẩy mảnh giấy về phía Tễ Xuyên.
Anh liếc nhìn, không hỏi đó là gì.
Lần này đến lượt tôi im lặng.
"Anh đã thấy hai chữ này," tôi nói.
Anh không phủ nhận.
Tôi thu hết các bản chép vào hộp. "Từ giờ trở đi, anh không được phép chỉ trả lời những gì tôi hỏi nữa. Anh biết cái gì, tự mình nói ra."
Tễ Xuyên ngồi xuống bậc đ/á, hai tay đan ch/ặt vào nhau.
"Tôi biết sử thành có một đoạn đã bị lược bỏ," anh nói, "Nhưng tôi không biết đã bị bỏ đi bao nhiêu."
"Ai nói với anh?"
"Thạch Bá Ân. Ngày ông ấy giao vòng cho tôi."
Sợi dây trong lòng tôi chìm xuống sâu hơn.
"Ông ấy còn sống không?"
"Còn. Chỉ là không trụ được bao lâu nữa."
Tôi đứng dậy, cài khuy áo khoác lên tận cổ. "Đưa tôi đi gặp ông ấy."
Tễ Xuyên không động đậy.
"Lê Uẩn Thư, Nghị sự đoàn sẽ không để cô rời khỏi tháp."
Tôi ấn con dấu dịch giả lên bao bì văn bản gốc. "Vậy thì mời họ đến ngăn cản tôi ngay bây giờ. Tiện thể cho phép tôi hỏi, tại sao một thành phố tự xưng sống sót nhờ khế ước suốt một trăm năm, lại sợ hãi nhất việc có người đọc trọn vẹn khế ước đó."