Nghị sự đoàn không thực sự nh/ốt tôi trong tháp. Họ chỉ phái hai vệ sĩ đi theo tôi, danh nghĩa là bảo vệ, nhưng thực tế là ghi chép lại từng bước chân.
Thạch Bá Ân sống trong căn nhà giữ triều cũ phía sau đê phía Bắc. Căn nhà thấp đến mức như dán sát xuống mặt đất, khung cửa sổ bị gió muối mài mòn thành màu xám trắng. Ông nằm trên chiếc giường hướng ra biển, hơi thở rất chậm, cổ tay trái vẫn còn hằn vết lõm do vòng bảo chứng đeo suốt nhiều năm.
Tễ Xuyên đứng ở cửa, không vào trước.
Thạch Bá Ân nhìn thấy tôi, câu đầu tiên liền nói: "Dịch sư cuối cùng cũng đến rồi."
Tôi đặt mảnh giấy chú giải ch/áy sém có viết chữ "cũ trục" (trục xuất cũ) trước mặt ông. "Đây có phải chữ của ông không?"
Ông nheo mắt nhìn rất lâu. "Không. Tôi chỉ từng thấy câu tương tự."
"Ở đâu?"
"Trong bản chú giải cá nhân mà người tiền nhiệm giao lại cho tôi."
"Hiện giờ đâu?"
Thạch Bá Ân cười nhẹ, hơi thở rất mỏng. "đ/ốt rồi."
Tôi không trách ông, chỉ hỏi: "Ai bảo ông đ/ốt?"
"Không ai nói rõ. Đêm nhận chức, Nghị sự đoàn cho tôi xem sử thành, lại cho tôi xem bức họa cũ cảnh đê phía Nam bị gió cuốn bay. Họ nói, có những chữ nếu để người dân nghe lại, cảng sẽ lo/ạn trước, người Canh giữ cũng có thể rút lui."
"Vậy ông chọn không lưu lại."
"Tôi chọn để người kế nhiệm sống trong ít vấn đề hơn." Ông nhìn Tễ Xuyên ở cửa. "Sau này mới biết, vấn đề không hề ít đi, chỉ là đổi sang người khác phải nuốt lấy mà thôi."
Tễ Xuyên cuối cùng cũng bước vào.
Tôi hỏi Thạch Bá Ân, bản chú giải cá nhân sớm nhất viết những gì. Ông nhắm mắt hồi tưởng, dùng ngôn ngữ thành cổ đọc một đoạn: "Thành này từng trục xuất dòng dõi phong tộc khỏi mũi Nam, cư/ớp đi giếng triều và nơi an táng của họ. Mỗi đời người bảo chứng nhân loại đều thừa nhận trước chúng, thuật lại chuyện trục xuất, không bớt, không tô vẽ, không chuyển tội lên gió."
Các ngón tay tôi siết ch/ặt lại.
Đây không phải lời cầu nguyện, cũng không có bất kỳ chữ nào về việc đền tội bằng m/áu, bằng mệnh hay bằng thân.
"Phía sau thì sao?"
Thạch Bá Ân ho hai tiếng. "Phía sau viết, người Canh giữ sau khi nghe lời thừa nhận sẽ tiếp tục giữ giới gió. Nếu trong trăm năm có một đời che giấu, khế ước sẽ chuyển sang 'thời kỳ thất ngôn'."
"Thời kỳ thất ngôn có cái giá gì?"
Ông lắc đầu. "Đoạn chú giải đó cũng bị thiếu."
Tôi lấy bản đồ vết triều từ trong túi ra, cho ông xem đời thứ nhất đến đời thứ bảy. Ông chỉ vào vạch nước thấp thứ ba.
"Khi còn nhỏ, tôi nghe bà kể, năm đó cả thành phố đã đọc tên những người đã khuất ở mũi Nam. Sau này ghi chép chính thức chỉ viết thành Lễ hội cầu triều."
"Tên của ai?"
"Phong tộc bị xua đuổi."
Tễ Xuyên thấp giọng hỏi: "Khi ông nhận chức đã biết rồi sao?"
Thạch Bá Ân nhìn anh. "Biết một nửa. Những gì tôi nói với cậu, cũng chỉ là một nửa."
Căn phòng im lặng rất lâu.
Tôi đột nhiên hiểu ra sự im lặng quen thuộc nhất của Tễ Xuyên được học từ đâu. Mỗi đời người bảo chứng đều được bảo rằng, bớt nói một chút có thể giảm bớt gánh nặng cho người tiếp theo. Đến khi người tiếp theo tiếp nhận, nội dung bị lược bỏ lại trở thành nguy hiểm mới.
Tôi hỏi Thạch Bá Ân: "Tại sao ông lại muốn gặp tôi?"
Ông giơ tay, chỉ ra ngoài cửa sổ.
Mây trên mặt biển đang ép về phía cảng với tốc độ bất thường. Giới gió của người Canh giữ vốn dĩ phải đẩy bão ra ngoài khơi, giờ đây bức tường mây đó lại càng lúc càng gần.
"Vì gió năm nay không còn nghe lời rút ngắn nữa," ông nói.
Trên đường về tháp, tôi không đi sóng đôi với Tễ Xuyên. Tôi đi phía trước, vệ sĩ theo sau, Tễ Xuyên cách tôi năm sáu bước.
Sắp đến cổng Nam, anh gọi tôi.
"Uẩn Thư."
Tôi dừng lại, không quay đầu.
"Ngày tôi nhận chức, Thạch Bá Ân đã nói với tôi về việc trục xuất."
Tôi quay người.
"Nói đến đâu?"
"Ông ấy nói thành phố từng cư/ớp giếng triều của tộc người Canh giữ, khế ước yêu cầu người bảo chứng phải thừa nhận. Cũng nói nếu công khai, người Canh giữ có thể rút lui một năm."
Lồng ngựk tôi như bị gió biển trực tiếp tràn vào.
"Vậy là anh biết."
"Tôi biết có điều khoản thừa nhận, nhưng chưa từng thấy văn bản gốc đầy đủ. Tôi không biết việc h/iến t/ế hoàn toàn sai lầm."
"Những gì anh biết đã đủ để anh tìm đến tôi."
Anh cụp mắt xuống. "Lúc đó tôi nghĩ cứ nhận vòng bảo chứng trước, đợi khi tôi tìm được cách để thành phố không mất giới gió, rồi sẽ nói cho em biết."
"Anh tìm được chưa?"
"Chưa."
"Vậy tại sao anh vẫn không nói?"
Anh không trả lời ngay.
Lần này tôi không thay anh bổ sung lý do.
Vệ sĩ ở phía xa giục chúng tôi về tháp. Tễ Xuyên cuối cùng nói: "Vì tôi sợ em sẽ dịch ra văn bản gốc."
Tôi nhìn anh.
"Anh sợ tôi làm đúng công việc của mình?"
"Tôi sợ sau khi em làm xong, thành phố thực sự phải trả giá."
Tôi đột nhiên rất muốn cười, nhưng lại không cười được.
Ba năm trước, khi anh rời đi cũng nói mọi chuyện quá phức tạp. Hóa ra ý nghĩa của từ phức tạp luôn rất cụ thể: Anh thay tôi quyết định tôi nên gánh chịu bao nhiêu sự thật.
Tôi quay người tiếp tục đi.
"Từ giờ trở đi," tôi nói, "anh có thể giúp tôi tìm tài liệu, nhưng anh không được phép thay tôi phán đoán cái gì đáng để biết nữa."
Trở lại tháp phong ấn, tôi viết từng chữ từng chữ lời ông Thạch Bá Ân thuật lại lên tường. Cửa gió không xoay ngược lại.
Khi chữ cuối cùng rơi xuống, gió Đông Bắc tràn vào dọc theo cửa sổ tháp, thổi mở một tập chú giải dịch thuật các đời ở tầng dưới cùng.
Trang đó vốn bị dính vào nhau.
Giữa kẽ giấy, lộ ra một dòng chữ chưa từng được biên soạn vào bản dịch tiêu chuẩn:
"Đời thất ngôn, người Canh giữ thoái thủ mười hai tháng triều."
Tôi nhìn chằm chằm vào dòng chữ đó, cuối cùng cũng biết cái giá mà Nghị sự đoàn thực sự sợ hãi là gì.
Công khai sự thật, sẽ không ch*t người ngay lập tức.
Nó sẽ khiến cả thành phố mất đi một năm bảo hộ.