Ngày cuối cùng của tháng triều thứ mười hai, thành phố Dư Triều không tổ chức lễ hội tế lễ.
Sáng sớm, thị dân đi dọc theo mũi Nam đến trước tháp phong ấn. Bức tường đê mới trông khá nặng nề dưới ánh mặt trời, mặt đ/á vẫn còn lưu lại những màu sắc khác nhau từ các lần tu sửa trong năm qua. Trước cửa tháp chỉ đặt một chiếc bàn dài, trên đó là khế ước hoàn chỉnh, danh sách bảy mươi ba người, hồ sơ thực hiện khế ước hàng năm và một hộp đựng vòng bảo chứng trống không.
Chúng ta không cần người bảo chứng nhân loại nữa.
Sau khi bản dịch hoàn chỉnh được công khai, Nghị sự đoàn đã giải nghĩa lại điều thứ nhất: vai trò nguyên thủy của người bảo chứng chỉ là mỗi đời phụ trách việc công khai tuyên đọc và x/ác nhận phía nhân loại thực hiện khế ước. Khi thành phố thiết lập hệ thống hồ sơ công khai vĩnh viễn và cơ chế chứng kiến chung, vai trò này có thể do nhiều người cùng hoàn thành, không cần phải trói buộc trách nhiệm lên một cá nhân nữa.
Tôi đứng sau bàn dài, kiểm tra từng mục.
"Danh sách tên đã công khai chưa?"
Đại diện ba nơi là Viện sử thành, trường học và mũi Nam đồng loạt báo cáo.
"Giếng triều và m/ộ địa đã mở cửa chưa?"
Người canh tháp nộp hồ sơ ra vào cả năm.
"Hồ sơ trục xuất đã giữ lại nguyên văn chưa?"
Mai Lạc đặt bản sử thành mới nhất lên bàn. Bà tự mình đọc ra ba chữ từng bị thay thế: trục xuất, cư/ớp đoạt, phong tỏa.
Mục cuối cùng kết thúc, mặt biển vẫn rất phẳng lặng.
Đám đông bắt đầu trò chuyện khẽ.
Tôi không thúc giục.
Khế ước chưa bao giờ đảm bảo người Canh giữ sẽ xuất hiện vào lúc chúng ta thấy thuận tiện.
Sau một hồi lâu, lá cờ gió đầu tiên ở phía xa nâng lên hướng Đông Bắc.
Tiếp đó là lá thứ hai, thứ ba.
Mười hai phiến lá đồng trên tháp phong ấn xoay chuyển từng chiếc một, phát ra tiếng kim loại trầm đục. Cửa gió tự mở.
T/át Già đứng ở phía bên kia.
Cơn bão phía sau nó như một bức tường biển màu xám bị gấp lại.
Tôi dùng cổ văn hỏi: "Ngươi x/ác nhận thành phố nhân loại đã hoàn thành điều kiện của thời kỳ thất ngôn chưa?"
T/át Già giơ tay.
Từ đáy tháp truyền đến mười hai tiếng vang của lưỡi đồng.
Đám đông im lặng đến mức có thể nghe thấy tiếng nước biển vỗ vào đ/á.
Nó không yêu cầu người bảo chứng mới, cũng không yêu cầu bất kỳ giọt m/áu nào. Nó chỉ đặt một mảnh gió trong suốt lên bàn. Mảnh gió gặp ánh mặt trời liền nổi lên ký hiệu mà cả hai bên cùng sử dụng: Tiếp tục giữ giới.
Khoảnh khắc tiếp theo, đường gió ngoài cảng bắt đầu chuyển hướng.
Có người bật khóc, cũng có người vỗ tay. Mai Lạc chỉ thở dài một hơi thật dài.
Tôi đăng ký mảnh gió đó vào hồ sơ công khai.
Sau khi công việc hoàn thành, tôi không ở lại trước tháp để nhận lời chúc mừng. Tôi vòng ra đê phía Nam, thấy Tễ Xuyên đang ngồi trên bờ tường bảo vệ mới, trong tay cầm hai tách trà nóng.
"Đây có tính là bàn về khế ước không?" anh hỏi.
Tôi nhận lấy một tách. "Xem anh nói gì đã."
Anh đặt tách kia lên đầu gối.
"Hôm nay có cần hỏi lại một lần nữa không?"
Tôi biết anh đang nói về bữa cơm đó.
Trong năm nay, chúng tôi cùng làm việc, cũng tách riêng làm việc; từng có tranh cãi, vài lần gặp nhau giữa đêm trên đê, nhưng phần lớn thời gian là ai về nhà nấy. Không ai dùng thiên tai để chứng minh tình thâm, cũng không ai vì từng gánh vác nguy hiểm mà lấy được sự tha thứ của người kia.
Tôi nhấp một ngụm trà.
"Có thể ăn cơm."
Tễ Xuyên mỉm cười.
"Chỉ ăn cơm thôi sao?"
"Ăn cơm trước đã."
"Được."
Anh không truy hỏi bước tiếp theo.
Chúng tôi đi dọc đê phía Nam về phía thành phố. Khi đi ngang qua giếng triều, một nhóm trẻ em đang nghe hướng dẫn viên đọc danh sách tên. Có người hỏi, tại sao người phong tộc vẫn nguyện ý quay lại.
Hướng dẫn viên nói: "Vì khế ước đã được thực hiện trở lại."
Tôi dừng lại một chút.
Câu trả lời này không nói ai đã tha thứ cho ai, cũng không biến sự hợp tác thành một sự ban ơn. Tôi rất thích điều đó.
Trước cửa Viện sử thành treo một tấm biển gỗ mới, bên dưới đặt một cuốn sổ ý kiến công khai. Trang đầu có người viết "Tổ tiên phạm lỗi không có nghĩa là chúng ta có tội", trang thứ hai có người đáp "Thừa nhận việc đã xảy ra, cũng không có nghĩa là trút tội lên đầu thế hệ sau". Cả hai câu đều để lại ở đó.
Tễ Xuyên đứng bên cạnh xem.
"Nghị sự đoàn trước đây chắc sẽ x/é bỏ câu thứ hai."
"Còn anh trước đây thì sao?"
Anh suy nghĩ một lúc.
"Có lẽ sẽ thấy để cả hai câu cùng lúc là rất nguy hiểm."
"Còn bây giờ?"
"Bây giờ thấy nguy hiểm cũng phải để."
Tôi mỉm cười.
Đến đầu phố, anh chợt nói: "Uẩn Thư, tôi sẽ không hứa rằng mình sẽ mãi mãi không im lặng nữa. Con người có lẽ vẫn sẽ biết sợ."
Tôi nhìn anh.
"Vậy anh có thể hứa một chuyện nhỏ hơn."
"Chuyện gì?"
"Khi sợ, hãy nói với tôi là anh đang sợ. Những thứ còn lại, hãy để tôi tự chọn."
Anh gật đầu.
"Tôi làm được."
Tôi không yêu cầu một lời thề lớn lao hơn.
Bài học mà khế ước trăm năm để lại cho thành phố này đã đủ rõ ràng: một khi lời hứa được viết ra đẹp đẽ hơn những gì con người có thể làm được, những người đời sau sẽ bắt đầu xóa chữ, sửa chữ, cho đến khi cái giá phải trả rơi xuống đầu những người vô tội.
Chúng tôi bước vào chợ sáng. Các cửa tiệm đang treo lại những tấm biển hiệu bị gió bão thổi hỏng trong năm qua, người b/án cá phàn nàn năm nay đá/nh bắt được ít, người thợ mộc đo đạc khung cửa sổ mới bên đường. Thành phố không trở nên tinh khiết chỉ vì sự thật được nói ra, cũng không hồi phục lại như cũ chỉ vì người Canh giữ quay về.
Nó chỉ có thêm một bản văn bản gốc mà ai cũng có thể đọc được.
Còn tôi và Tễ Xuyên, cũng chỉ có thêm một bữa cơm tối.
Đối với tôi hiện tại, như vậy đã là đủ.
Chập tối, tôi quay lại tháp phong ấn để thu nốt lô chú giải cuối cùng. Khi lật đến trang thứ năm của khế ước trăm năm, chữ khuyết từng bị bổ sung thành "mệnh" đã được dùng mực mới đá/nh dấu hoàn chỉnh là "nhận".
Tôi thêm vào bên cạnh một dòng chú thích ngắn gọn nhất:
"Khế ước này không có điều khoản h/iến t/ế."
Rồi khép cuốn sổ lại.
Ngoài cửa sổ, gió đang giúp cánh buồm thay đổi hướng đi.