Sau khi cây cầu cũ cửa Bắc bị phong tỏa, trước cửa tháp đồng hồ xuất hiện thêm ba giỏ trái cây, hai túi bột mì và một bức tranh vẽ bảy chiếc đồng hồ do một đứa trẻ vẽ.
Bà nội thu hết mọi thứ vào kho, nhưng không chạm vào bức tranh đó.
"Trước đây cũng vậy sao?" tôi hỏi.
"Chuông dự báo từng c/ứu người, mọi người tất nhiên sẽ biết ơn."
"Họ có biết thứ họ đang cảm ơn là tương lai của ai không?"
Bà nội im lặng.
Tôi mang tấm thẻ hồi ức thứ tư xuống phòng lưu trữ dưới tầng hầm. Nơi đó lưu giữ những tấm thẻ được lấy ra qua các đời, nhét đầy từng ngăn tủ gỗ. Tôi từng nghĩ "những cư dân chờ lấy lại tương lai" chỉ là lời đồn đại của người giữ đồng hồ, cho đến tận chiều hôm đó, thực sự có người tìm đến.
Người đầu tiên là ông lão mở tiệm giày. Trên tay ông có một vết ấn màu xám đã phai nhạt, không giống dấu ấn hôn ước, mà giống như một chiếc đồng hồ nhỏ chưa khép kín. Ông lấy ra tấm thẻ cũ do ban quản lý cấp, nói rằng bà của ông từng được liệt vào danh sách "người mượn tương lai", theo quy định, sau khi bảy chiếc đồng hồ vận hành trở lại, một phần những khả năng chưa được sử dụng sẽ quay về với gia đình gốc.
"Sau khi quay về thì sẽ thế nào?" tôi hỏi.
Ông lão mỉm cười: "Không biết. Có người nói sẽ nằm mơ, có người nói đột nhiên nhớ lại mình vốn dĩ có thể trở thành người như thế nào."
Ông nói rất bình thản, lại càng khiến tôi thấy khó chịu hơn.
Thành phố này không phải chỉ có gia đình chúng tôi là gánh vác khế ước. Có người mất đi khả năng, có người chờ đợi được trả lại, còn đa số mọi người chỉ biết đồng hồ có thể dự báo, không biết thứ thực sự luân chuyển bên trong đồng hồ là gì.
Yến Xuyên ở lại giúp tôi sắp xếp đến tận chiều tối. Chúng tôi xếp những tấm thẻ hồi ức có niên đại gần nhau lên bàn dài, phát hiện ra cứ sau mỗi lần dự báo lớn, lại có một loạt thẻ bị phai màu. Bà nội nói đó là biểu hiện của việc khả năng đã bị "tiêu hao" - thành phố để tránh một thảm họa nào đó đã chọn bỏ một phần tương lai, cuộc đời còn lại của người đó sẽ không bao giờ xảy ra nữa.
Tôi nhìn chằm chằm vào một tấm thẻ gần như trong suốt: "Vậy nên chuông dự báo không phải là lời nhắc miễn phí. Nó thu hẹp con đường của tất cả mọi người."
"Đúng vậy," bà nội nói, "nhưng không ai biết nếu hoàn toàn dừng lại, thành phố sẽ phải trả giá những gì."
Tôi chợt hiểu tại sao bà cứ khăng khăng không chịu nói đơn giản là "phá bỏ khế ước". Bà không chỉ giữ lời dạy của tổ tiên, mà còn giữ cả những người từng thực sự sống sót nhờ lời dự báo.
Buổi tối, tôi và Yến Xuyên ngồi trên bậc đ/á ngoài tháp đồng hồ ăn ổ bánh mì đã nguội. Gió sau cơn mưa rất lạnh, anh đưa áo khoác cho tôi, tôi không nhận.
"Em gi/ận thì không cần phải khách sáo như vậy đâu," anh nói.
"Em sợ nếu em không khách sáo, em sẽ hỏi anh tại sao biết rõ hôn lễ là điều kiện mà vẫn cầu hôn."
"Em đã hỏi rồi."
"Anh vẫn chưa trả lời trọn vẹn."
Anh cúi đầu mân mê mép túi giấy: "Lần đầu tiên anh nhìn thấy dấu ấn hôn ước là ngày đi m/ua nhẫn. Bà Chiêu Lan nói với anh rằng thế hệ này của hai gia tộc chỉ còn chúng ta là phù hợp với khế ước. Ban đầu anh đã định hủy bỏ việc cầu hôn."
Tôi nhìn anh.
"Sau đó thì sao?"
"Anh nghĩ đến một việc rất khó coi," anh cười khổ một chút, "nếu anh chỉ vì một bản khế ước của tổ tiên mà không dám hỏi em có muốn kết hôn với anh không, thì thực ra đó vẫn là để khế ước quyết định thay chúng ta."
"Vậy nên anh quyết định hỏi trước, hậu quả tính sau?"
"Đúng."
"Vậy thì anh vẫn tước đi một nửa thông tin của em."
Anh gật đầu: "Đúng."
Tôi không ngờ anh lại thừa nhận nhanh như vậy, sự gi/ận dữ đã chuẩn bị sẵn bỗng khựng lại.
"Em không phải gi/ận vì anh cầu hôn," tôi nói, "em gi/ận vì khi em đồng ý, em cứ nghĩ chúng ta đang trả lời cùng một câu hỏi."
Anh ngẩng đầu nhìn tôi.
"Em trả lời là có muốn kết hôn với anh không. Còn anh trả lời là có muốn đính hôn với em trong khi đã biết rõ về khế ước hay không. Đây không phải là cùng một câu hỏi."
Yến Xuyên im lặng rất lâu.
"Chiếc nhẫn đó em có thể tháo ra trước," cuối cùng anh nói, "không phải là hủy hôn. Anh chỉ cảm thấy, em nên có cơ hội để trả lời lại."
Tôi nhìn chiếc nhẫn trên ngón tay. Sợi chỉ vàng đã bò từ vòng trong ra đến tận gốc ngón tay, nhạt nhòa như sương sớm.
Tôi tháo nhẫn ra, bỏ vào túi.
Dấu ấn không biến mất.
Nhưng nó cũng không sáng lên nữa.
Đây là lần đầu tiên chúng ta giành lại được một chút quyền kiểm soát có thể quan sát được từ tay khế ước.
Sáng sớm hôm sau, tôi đo lại chiếc đồng hồ thứ năm. 50 nhịp mỗi phút, vị trí thiếu răng vẫn ở chỗ cũ.
Tôi không sửa ngay.
Tôi tháo trang cuối cùng trong cuốn sổ bảo trì mà Kiều Tuân để lại, đặt lên tấm bảng xuyên sáng. Trong thớ giấy ẩn giấu một vết hằn, chỉ có thể nhìn thấy dưới ánh sáng nghiêng.
Đó không phải là chữ.
Mà là một bản vẽ mặt c/ắt dẫn vào bên trong chiếc đồng hồ thứ bảy.
Trên bản vẽ, vị trí thiếu răng được đá/nh một dấu X.
Cạnh dấu X còn có một đường mảnh gần như không thể nhìn thấy, nối từ chiếc đồng hồ thứ bảy thẳng đến lễ đài hôn lễ trên tầng cao nhất của tháp đồng hồ. Tôi lần theo bản vẽ sờ đến mép giấy, phát hiện đường dây đó không nối lại vào bánh răng chủ, mà bị người ta cố ý c/ắt đ/ứt giữa chừng.
"Kiều Tuân không chỉ muốn người ta tháo một chiếc răng," tôi nói.
Yến Xuyên đưa đèn lại gần.
"Ông ấy muốn chiếc đồng hồ cuối cùng luôn có cơ hội bị dừng lại."