Sau khi tấm bình phong thứ nhất được đưa vào phòng tối để hong khô, tôi chuyển sang xem tấm thứ hai.
Đây là bình phong sơn thủy sáu cánh, khung gỗ đã làm xong quá nửa, nhưng cha lại bóc sạch lớp vải dán ở cánh ngoài cùng bên trái, thậm chí còn cạo cả lớp tro nền. Nhìn bề ngoài chỉ là một vết nứt nhỏ cạnh mộng gỗ, tôi dùng đ/ốt ngón tay gõ nhẹ, tiếng kêu chỗ đặc chỗ rỗng.
“Không phải nứt, là bên trong có hai loại gỗ.” Tôi nói.
Bùi Cảnh Sơ ngồi xổm ở phía bên kia, chỉ dùng đèn soi vào vân gỗ, không đưa tay vào. “Nếu cô chắc chắn, thì tháo đi.”
Tôi men theo vết d/ao cha để lại tháo thanh viền ra. Lớp bên trong quả nhiên không phải gỗ du già như đơn đặt hàng ghi, mà là một nửa gỗ du già, một nửa gỗ thanh đàn ghép lại. Thanh đàn cứng, gỗ du mềm, gặp ẩm độ co giãn khác nhau, lớp tro nền bên ngoài dù dày đến đâu cũng không đ/è nổi.
Bác Ngô hít một hơi lạnh. “Đây không phải khung gỗ do xưởng chúng ta làm.”
Tôi lập tức đi lật sổ gỗ. Ngày nhập khung gỗ của lô bình phong đó là tháng Sương năm ngoái, nhưng cột người cung cấp lại bị mực bôi đen, chỉ để lại một chữ “Tây”.
Bùi Cảnh Sơ nhìn thấy ngày tháng, thần sắc có chút khác lạ.
“Anh biết sao?”
“Tháng đó mấy xưởng mộc phía tây thành đều đang chạy hàng cho quan phủ, đơn dân rất ít nhận.” Anh ngập ngừng, “Nhưng kiểu ghép khung này, tôi từng thấy rồi.”
Tôi đợi anh nói tiếp.
“Ba năm trước, kho quan phủ trả lại một lô bình phong lớn, cũng là gỗ du kẹp thanh đàn. Không phải ăn bớt vật liệu, mà là để kịp tiến độ giao hàng nên ghép tạm vào.”
Trong đầu tôi như có gì đó va đ/ập mạnh. Ba năm trước chính là lúc Thừa Nhạc trở về nhà. Năm đó cha chỉ nói với bên ngoài là huynh ấy đã nhận được đơn hàng lớn cho gia đình, từ đó không đi nơi khác nữa. Mẹ cũng là năm đó lần đầu tiên cầm cố trang sức.
Tôi đến phòng kế toán tìm Thừa Nhạc, huynh ấy không có ở đó. Trên bàn lại đang bày sẵn những tờ ngân phiếu chuẩn bị gửi đi, bên cạnh là một bảng tiền công. Tôi vốn chỉ định đợi huynh ấy về, nhưng ánh mắt lại bị mấy cái tên trên bảng giữ lại—hai người thợ già đã rời xưởng từ ba năm trước, vậy mà năm ngoái vẫn nhận được “tiền bù công”.
Tôi không đụng vào ngăn kéo của huynh ấy, chỉ mang bảng tiền công bày trên mặt bàn đi hỏi bác Ngô.
Bác Ngô nhìn thấy tên, thở dài một tiếng. “Đó không phải tiền công, là tiền bịt miệng từ năm cũ.”
“Bịt miệng chuyện gì?”
Bác ấy im lặng quá lâu.
Tôi đặt thanh viền của tấm bình phong thứ hai trước mặt bác ấy. “Gỗ bên trong này, giống với bình phong quan phủ trả lại ba năm trước, đúng không?”
Người già chậm rãi ngồi xuống, những đường gân trên mu bàn tay nổi lên như dây leo khô. “Cô nương, lão gia đã đi rồi.”
“Cho nên càng cần phải biết thứ để lại là gì.”
Cuối cùng bác ấy chỉ chịu nói, ba năm trước quả thực có một lô bình phong quan phủ bị nứt sau khi bàn giao, quan phủ không niêm yết trách nhiệm, chỉ yêu cầu nhà họ Cố làm lại trong thời hạn và bồi thường một khoản tiền vật liệu. Lô hàng đó nếu truyền ra ngoài, danh tiếng mấy chục năm của cha sẽ mất quá nửa. Còn về việc ai ký vào biên bản bồi thường, tiền lấy từ đâu ra, bác ấy không chịu nói.
Tôi đã đoán được một nửa.
Buổi tối khi Thừa Nhạc về, tôi đợi huynh ấy trước tấm bình phong thứ hai.
“Khoản bồi thường của quan phủ là huynh ký sao?”
Bước chân huynh ấy khựng lại.
“Ai nói với muội?”
“Huynh trả lời trước đi.”
Huynh ấy nhìn vào khung gỗ đang để hở, sắc mặt như bị hơi ẩm trong phòng tối đ/è xuống từng tấc. “Là ta.”
Ngựk tôi thắt lại. “Hàng do cha làm, tại sao huynh phải bồi thường?”
“Lúc đó quan phủ chỉ cho phép một người đứng tên. Cha không thể.”
“Cho nên huynh có thể?”
Huynh ấy không đáp.
Tôi bỗng rất muốn vứt con d/ao cạo trong tay xuống. Những năm này tôi luôn tưởng Thừa Nhạc ở lại nhà là vì huynh ấy được chọn, cha đã giao xưởng sơn, phòng kế toán, vị trí gia chủ cho huynh ấy từ trước; nhưng giờ đây tôi mới biết, huynh ấy có lẽ không phải người đứng trong cửa, mà là người bị đẩy ra để bịt khe cửa.
“N/ợ bao nhiêu?”
“Còn chín trăm sáu mươi lượng.”
Tôi gần như tưởng mình nghe nhầm. Đó không phải con số mà xưởng sơn có thể dễ dàng trả hết trong một năm.
“Tại sao trên sổ sách không có?”
“Nằm dưới tên ta.”
“Huynh dùng vật liệu trong xưởng để gán n/ợ?”
Huynh ấy cuối cùng cũng nhìn tôi. “Có một phần.”
“Cho nên thạch thanh, chu sa, sơn chín bị thiếu hụt đều là do huynh?”
“Có một phần không phải.”
Tôi chộp lấy câu này. “Phần nào?”
Huynh ấy nhắm mắt lại. “A Hành, đừng điều tra nữa. Muội làm xong ba tấm bình phong, lấy số tiền muội đáng được nhận rồi đi đi. Vị trí gia chủ ta có thể không cần, n/ợ ta cũng sẽ gánh.”
Đây là lần đầu tiên huynh ấy nói trước mặt tôi rằng có thể không cần làm gia chủ. Tôi lại càng tức gi/ận hơn trước.
“Huynh gánh n/ợ, cha giữ danh tiếng, muội rời đi, thợ thủ công tiếp tục không biết tại sao xưởng lại thiếu vật liệu—đây chính là sự sắp đặt của huynh sao?”
“Ít nhất sẽ không đ/ập vỡ bát cơm của tất cả mọi người.”
“Huynh dựa vào cái gì mà quyết định thay tất cả mọi người?”
Huynh ấy đột ngột quay người. Tôi tưởng huynh ấy sẽ nổi gi/ận, nhưng huynh ấy chỉ đặt tay lên khung cửa sổ, rất lâu sau mới nói: “Vì ba năm trước, ta không có cơ hội để tự quyết định cho chính mình.”
Câu nói đó khiến tôi dừng lại.
Tấm bình phong thứ hai vẫn đang để hở khung gỗ, hai loại gỗ hiện rõ mồn một dưới ánh đèn. Thứ mà cha dùng lớp tro nền che đậy, không chỉ là một vết nứt, mà là cả một đoạn chuyện cũ mà anh em chúng tôi chưa bao giờ thực sự nói ra.
Ngày thứ hai, tôi không làm theo cách cũ để bù đắp lại.
Tôi nhờ Bùi Cảnh Sơ tính toán lại gỗ, lại mời bác Ngô tìm tất cả những người từng làm bình phong quan phủ ba năm trước đến. Tôi quyết định làm rõ tại sao lô gỗ đó lại bị ghép vào, bởi vì nếu sai lầm năm đó của cha không phải là sơ suất đơn thuần, thì chín trăm sáu mươi lượng kia, không nên chỉ tính trên đầu Thừa Nhạc.