Năm người từng làm bình phong quan phủ ba năm trước, nay chỉ còn ba người ở lại xưởng nhà họ Cố.
Tôi không gọi họ vào phòng kế toán, mà bê vài chiếc ghế đẩu ra hậu viện vào giờ nghỉ trưa. Cha lúc sinh thời coi trọng nhất là quy củ, thợ thủ công hiếm khi bàn về sai lầm cũ trước mặt chủ nhà. Nếu tôi ngồi ở vị trí chủ tọa mà hỏi, họ chắc chỉ đáp là “không nhớ rõ”.
Người lên tiếng trước là thợ đào Đào.
“Lô gỗ đó vốn không phải ghép.” Ông nói, “Lô gỗ du già đầu tiên đủ làm mười hai tấm, sau đó thiếu mất bốn thanh, mới phải lấy tạm thanh đàn bù vào.”
“Ai lấy đi?”
“Trên sổ lĩnh vật liệu ghi là Nhị gia.”
Trong hàng ngũ nhà họ Cố, chú Cảnh Kiều chính là Nhị gia.
Tôi nhờ bác Ngô tìm cuốn sổ gỗ ba năm trước. Trang giấy đã ố vàng, ngày mùng sáu tháng Sương ghi rõ bốn thanh gỗ du già “chuyển sang Tây viện sửa chữa”. Nhưng tôi nhớ rõ năm đó Tây viện hoàn toàn không có thi công, mãi đến năm ngoái mới thay ngói.
Một người thợ già khác thì thầm: “Lúc đó chúng tôi cũng từng hỏi. Lão gia nói tộc nhân cần gấp, nên nhường ra trước, thời hạn giao hàng quan phủ không thể thay đổi, nên lấy thanh đàn trong kho bù vào.”
“Cha biết sẽ nứt sao?”
Không ai trả lời ngay.
Cuối cùng thợ Đào nói: “Biết là có rủi ro. Lão gia bảo chúng tôi làm mộng cho ch/ặt, lại bồi thêm hai lớp vải. Chỉ là năm đó mưa liên tiếp hơn hai mươi ngày, nên vẫn bị nứt.”
Tôi nhìn vào mảnh gỗ ghép lộ ra ở tấm bình phong thứ hai, cổ họng khô khốc. Sai lầm của cha bỗng nhiên có hình hài cụ thể: không phải bị người ta h/ãm h/ại, cũng chẳng phải điều không thể lường trước. Ông biết vật liệu không ổn, vẫn chọn cách chạy theo tiến độ.
Chú Cảnh Kiều quả thực đã lấy đi gỗ, nhưng cha cũng quả thực đã đưa thứ có rủi ro ra khỏi cửa.
Thừa Nhạc về vào buổi tối, tôi trải sổ vật liệu ra cho huynh ấy xem. Huynh ấy chỉ liếc qua, rồi nói: “Ta biết.”
“Huynh biết chú họ từng lấy gỗ?”
“Biết.”
“Vậy tại sao huynh không nói?”
“Vì cha cũng đã gật đầu.”
Câu trả lời này khiến tôi không thể đẩy hết mọi tức gi/ận lên đầu chú Cảnh Kiều.
Thừa Nhạc lấy từ trong vạt áo ra một chiếc túi giấy dẹt, đặt lên bàn. Bên trong là biên lai bồi thường của kho quan phủ, từng tờ một đều đóng dấu theo quý, tờ sớm nhất chính là cuối đông ba năm trước. Tên người n/ợ ghi là Cố Thừa Nhạc.
“Nếu lúc đó cha bị liệt vào hàng thợ thủ công mất uy tín, nhà họ Cố trong vòng ba năm sẽ không thể nhận đơn quan phủ nữa, các đại gia tộc dân gian cũng sẽ rút đơn theo.” Huynh ấy nói, “Người của quan phủ đưa ra hai con đường, một là ghi tên cha, hai là do người quản lý thi công đứng ra nhận trách nhiệm. Lúc đó ta vừa mới chạy sổ sách giúp ông, nên đã ghi tên ta.”
“Cha bảo huynh ký?”
Huynh ấy im lặng một lát. “Ta cũng đã đồng ý.”
Tôi không thể thốt ra câu “tại sao huynh ngốc thế”. Bởi vì tôi bỗng nhớ lại năm mình rời nhà, cha cũng từng nói, nghề của nhà họ Cố không thể đ/ứt đoạn trên tay ông. Lúc đó tôi gh/ét nhất câu này, cảm thấy ông lấy gia nghiệp ra đ/è nén mỗi người; Thừa Nhạc chắc cũng đã nghe không biết bao nhiêu lần.
“Trong chín trăm sáu mươi lượng đó, có bao nhiêu là tiền bồi thường quan phủ thật?”
“Ban đầu là một ngàn bốn trăm lượng, đã trả được quá nửa. Sau đó... lại thêm mấy khoản nữa.”
Tôi nhìn chằm chằm huynh ấy. “Mấy khoản gì?”
Huynh ấy xếp các biên lai theo thứ tự năm. Từ năm ngoái, có ba tờ không còn là dấu ấn của kho quan phủ, mà là giấy n/ợ từ công khố của tộc. Mục ghi là “Trưởng phòng xoay vòng vốn”, tổng cộng sáu trăm lượng, vẫn do Thừa Nhạc ký tên.
“Số tiền này huynh đã nhận?”
“Không nhận đủ.”
“Thế nào là không nhận đủ?”
“Chú họ nói tộc nhân ứng trước khoản quan phủ cho ta, nên ta ký giấy n/ợ. Nhưng sau đó ta tra ra, số tiền quan phủ nhận được ít hơn số trên giấy n/ợ.”
Lòng tôi chùng xuống. “Khoản chênh lệch đâu?”
“Không tìm thấy.”
Huynh ấy cuối cùng cũng nói ra lỗ hổng mà tôi đã truy đuổi suốt mấy ngày nay. Từ năm ngoái, chú Cảnh Kiều lấy danh nghĩa xoay vòng vốn cho trưởng phòng, rút tiền từ công khố của tộc, rồi gắn một phần n/ợ quan phủ vào tên Thừa Nhạc; cùng thời gian đó, vật liệu tốt của xưởng sơn cũng liên tục xuất kho dưới danh nghĩa “đối trừ n/ợ”. Nếu chỉ nhìn chữ ký của Thừa Nhạc, tất cả thua lỗ đều giống như trưởng phòng n/ợ nần làm sụp đổ xưởng sơn.
“Tại sao huynh không vạch trần sớm hơn?” Tôi hỏi.
“Chứng cứ không đủ. Phòng kế toán là người của chú họ, nếu ta lên tiếng trước, ông ta chỉ cần nói ta n/ợ nần không trả nổi, tộc nhân sẽ phá xưởng sơn để gán n/ợ trước.”
“Cho nên huynh đợi?”
“Ta muốn đợi đến khi n/ợ quan phủ chỉ còn vài kỳ cuối, rồi mới nói.”
Tôi không nhịn được mà cười, nhưng không có lấy một chút ý cười nào. “Huynh muốn một mình lấp đầy lỗ hổng, muội muốn một mình làm xong ba tấm bình phong. Chúng ta quả thật là do cha dạy ra.”
Huynh ấy ngước mắt nhìn tôi.
Đây là lần đầu tiên tôi không coi huynh ấy là người con trưởng đang đứng đối diện với mình.
Nhưng biết được n/ợ của huynh ấy đến từ đâu, không khiến mọi chuyện trở nên dễ dàng hơn. Ngược lại, nếu muốn chứng minh chú Cảnh Kiều biển thủ, tôi phải lật lại sai lầm quan phủ ba năm trước. Danh tiếng của cha, tư cách của Thừa Nhạc, uy tín của xưởng sơn, tất cả đều bị buộc trên cùng một sợi dây.
Đêm đó tôi tháo toàn bộ gỗ ghép của tấm bình phong thứ hai, quyết định thay thanh đàn, dùng gỗ du già còn tồn trong kho để nối lại khung.
Bùi Cảnh Sơ nhìn tôi vẽ đường nối mộng, hỏi: “Đã nghĩ kỹ chưa?”
“Chưa.”
“Vậy mà vẫn tháo?”
“Nơi nứt biết rõ là sẽ nứt, thì không thể đậy lại được nữa.”
Anh không hỏi thêm, chỉ đẩy thước gỗ đến bên tay tôi.
Tôi bỗng cảm thấy, câu nói này có lẽ không chỉ đang nói về tấm bình phong.