Ngày tái họp bàn chia gia sản, tôi mang tấm bình phong thứ ba đến tay chưởng quầy Nguyễn trước.
Bà không xem lớp sơn trước, chỉ đưa tay sờ vào mấy vết khắc chiều cao. Hai vạch trên cùng được viền đỡ mới bảo vệ chắc chắn, chỗ bị mọt ăn được vá từ mặt sau, mặt trước vẫn giữ nguyên độ nông sâu của gỗ cũ.
“Đúng là thế này.” Bà nói.
Khi bà thanh toán nốt số tiền còn lại, tôi bỗng trút được gánh nặng. Ba tấm bình phong đến đây mới thực sự hoàn thành, không phải vì chúng sáng bóng không tì vết, mà vì mỗi tấm đều được giao đi theo đúng cách mà khách hàng mong muốn.
Trở lại tiền đường nhà họ Cố, tộc lão, đại diện thợ thủ công, thầy kế toán và chú Cảnh Kiều đều đã có mặt đông đủ. Chiếc ấn gia chủ của cha vẫn đặt trên bàn.
Tôi không lấy sổ kho Vĩnh Thành ra trước.
Tôi kể lại chuyện bình phong quan phủ ba năm trước.
“Năm đó, bốn thanh gỗ du già bị tộc lấy đi, cha biết việc ghép thanh đàn với gỗ du có nguy cơ nứt vỡ, nhưng vẫn quyết định chạy theo tiến độ. Sau khi bình phong nứt, Thừa Nhạc đã đứng tên quản sự thi công nhận bồi thường một ngàn bốn trăm lượng. Đây là nguồn gốc khoản n/ợ đầu tiên.”
Trong sảnh, có người lập tức m/ắng tôi bất hiếu.
Tôi không tranh cãi, chỉ đặt sổ giờ công của thợ Đào, bác Ngô và biên lai quan phủ lên bàn. Thừa Nhạc cũng đứng dậy, thừa nhận mình đã ký vào khoản bồi thường, sau đó lại ký giấy n/ợ trong tộc mà không x/ác minh số tiền thực thu của quan phủ.
“Con xin rút khỏi danh sách ứng cử gia chủ.” Huynh ấy nói.
Tôi liếc nhìn huynh ấy. Lần này tôi không ngăn cản.
Thừa Nhạc không phải vì chịu khổ thay cha mà mặc nhiên phù hợp để quản lý xưởng. Ba năm qua, huynh ấy giấu rủi ro dưới tên mình, cũng làm cho thợ thủ công và gia đình mất cơ hội được biết sự thật. Sẵn sàng thừa nhận điều này mới là lúc huynh ấy thực sự buông bỏ vị trí đó.
Tiếp đó, tôi mới đưa ra hai mươi bảy tờ đơn nhập kho của kho Vĩnh Thành, tờ đơn nhận vật liệu có dấu riêng của chú Cảnh Kiều, sổ sách chi tiền thuê kho của xưởng sơn, và các ghi chép không khớp trong tộc khố.
“Số hàng này trị giá ít nhất bốn trăm bảy mươi lượng. Nếu nhị thúc nói là đối trừ n/ợ, xin hãy đưa ra ghi chép thu hàng và định giá của tộc; nếu nói là tạm quản, xin hãy giải thích tại sao lại ghi là chuyển cho nhị phòng sau khi chia gia sản.”
Chú Cảnh Kiều không còn nói là kế toán viết sai nữa.
Chú ta nhìn chằm chằm tôi hồi lâu, bỗng nói: “Dù sổ sách này có tra lại, trưởng phòng vẫn n/ợ tiền trong tộc. Cháu kéo ta xuống nước cũng không lấp nổi lỗ hổng đâu.”
“Cho nên hôm nay con không đến để c/ầu x/in tộc trao ấn gia chủ cho con.”
Tôi đặt bản thảo chương trình làm việc cạnh chiếc ấn.
Các tộc lão đồng loạt nhíu mày.
Tôi nói: “Ba tấm bình phong giúp con nhìn rõ một điều. Pha sơn sai thì phải kiểm tra vật liệu; khung gỗ có b/ệnh thì phải dám tháo ra; hứa với khách thì không được vì chạy tiến độ mà lén lút thay đổi. Quản lý một xưởng cũng vậy. Nếu vẫn chỉ dựa vào ai là con trưởng, ai gả cho nhà nào, ai được tộc lão nói một câu là quyết định, thì hôm nay con ngồi vào, vài năm sau có thể lại lặp lại một lần nữa.”
Chú Cảnh Kiều cười lạnh: “Cô muốn để mấy gã thợ ngang hàng với chủ nhà sao?”
“Con muốn những người bị ảnh hưởng bởi quyết định có thể nhìn thấy quyết định đó.”
Tôi đọc từng điều trong chương trình đã sửa: Người quản xưởng phải qua sát hạch về kỹ thuật, sổ sách và giao kèo khách hàng; v/ay n/ợ lớn cần đồng thuận ký tên; kiểm kê vật liệu mỗi quý, công khai tổng sổ sách hàng năm; tiền công không được dùng tài sản tộc để đối trừ; người nhà phạm lỗi vẫn ghi chép như thường; hôn nhân không được liệt vào trao đổi công việc.
Điều cuối cùng đọc xong, trong sảnh còn tĩnh lặng hơn trước.
Tộc lão hỏi: “Nếu tông tộc họ Cố không bảo lãnh cho cháu thì sao?”
“Vậy thì không cần bảo lãnh.”
“Cháu có biết điều này nghĩa là gì không?”
“Biết. Sau này n/ợ vật liệu sẽ khó hơn, mối khách cũng phải gây dựng lại từ đầu. Phần tài sản ở Tây khố vốn do tộc cùng duy trì, con xin rút phần chia để đổi lấy khế ước xưởng sơn đ/ộc lập. N/ợ cũ quan phủ do trưởng phòng tiếp tục trả theo giao kèo, không chuyển sang cho thợ, cũng không treo vào sổ tộc nữa.”
Mẹ đứng sau lưng tôi nói: “Mẹ đồng ý.”
Thừa Nhạc cũng nói: “Con đồng ý.”
Tộc lão nhìn ra ngoài cửa. Mười bốn thợ thủ công không phải ai cũng lập tức đứng về phía tôi. Có người im lặng, có người bàn tán nhỏ. Cuối cùng, bác Ngô đại diện cho mọi người đẩy bản chương trình đã sửa về phía bàn.
“Chúng tôi ở lại.” Bác nói, “Nhưng làm đúng như hôm nay viết, sổ sách phải cho xem thật.”
“Cho xem.”
Chú Cảnh Kiều đột nhiên vươn tay lấy chiếc ấn gia chủ: “Hoang đường. Tổ nghiệp đâu có truyền kiểu này!”
Thừa Nhạc nhanh hơn chú ta, đ/è ch/ặt lấy hộp gỗ, nhưng không giao ấn cho tôi.
Huynh ấy chỉ đẩy hộp gỗ sang cạnh bản chương trình.
Hành động này làm sống mũi tôi cay cay.
Không phải huynh trưởng nhường vị trí cho em gái, cũng không phải tộc lão công nhận nữ nhi có tư cách. Chiếc ấn đó lần đầu tiên không bị ai đó lấy đi vì giới tính hay thứ tự trong nhà, mà là trước khi quy củ mới được viết rõ ràng, không ai được phép chạm vào nó.
Tộc lão cuối cùng không lập tức phong tôi làm chủ.
Họ chỉ đồng ý tạm dừng việc chia gia sản, hàng hóa trong kho Vĩnh Thành bị niêm phong để kiểm tra, nhị phòng không được động vào sổ sách xưởng sơn nữa. Ba ngày sau, sáu thợ thủ công chủ chốt, thầy kế toán, mẹ, Thừa Nhạc và tôi cùng ký tên vào chương trình mới.
Chú Cảnh Kiều từ chối ký.
Tộc cũng rút lại thư bảo lãnh vốn cấp cho trưởng phòng.
Ngày tôi giành được quyền quyết định xưởng sơn, không có tiếng trống nhạc, không có biển hiệu mới, ngược lại mất đi hai thương nhân cho n/ợ vật liệu và quyền sử dụng Tây khố.
Nhưng khi tôi bước về phía giá phơi sơn, lần đầu tiên cảm thấy những cái giá này thực sự là do chính mình lựa chọn.
Bùi Cảnh Sơ đứng ngoài cửa, không vào chúc mừng tôi.
Anh chỉ hỏi: “Lô gỗ ở phía bắc thành, còn đi xem không?”
Tôi nhìn anh, cuối cùng cũng mỉm cười.
“Xem. Nhưng hôm nay không đi.”
“Tại sao?”
“Hôm nay phải phát tiền công trước.”
Anh cũng cười. “Vậy mai tôi lại hỏi.”