Khi tôi đuổi theo vào phòng kế toán, Minh Anh đang chuyển từng chồng sổ sách về độ mớn nước của mười hai con tàu lên bàn dài.
"Chuyện lần thứ hai chị vừa nói, rốt cuộc là gì?"
Chị không trả lời, chỉ đẩy cuốn sổ trên cùng về phía tôi. "Làm xong việc em đã hứa trước đi."
Tôi gh/ét cái giọng điệu này của chị. Từ nhỏ đã vậy, tôi hỏi một câu, chị luôn có thể dùng mười việc chính sự để đ/è bẹp câu hỏi đó xuống. Mẹ đổ b/ệnh, chị bảo lo giao hàng trước; tôi rời nhà, chị bảo lo chuẩn bị hành lý cho tốt; đến cả bây giờ người đã mất, chị vẫn bắt tôi phải tính toán mực nước trước.
Tôi bực bội ngồi xuống, mở sổ ra.
Mười hai con tàu không giống nhau. Sáu con tàu cũ có độ mớn nước sâu, sau khi chất đầy hàng thì xoay trở chậm; bốn con tàu mới có khoang bụng rộng, thích hợp với những vịnh cạn; hai chiếc còn lại từng được tu sửa phần sống tàu, Minh Anh đặc biệt dùng mực đỏ đá/nh dấu "không được qua bãi cạn gấp". Nếu chỉ nhìn theo tuyến đường màu chàm của mẹ, nó hoàn toàn không phù hợp để mười hai con tàu cùng đi một lúc.
"Mẹ không phải muốn tìm một con đường mới," tôi nói.
Đầu bút của Minh Anh khựng lại một nhịp.
Tôi rút tờ giấy trắng, chia thành hai nhóm dựa theo kiểu dáng tàu, rồi đá/nh dấu những vết khắc mực nước mà bác Thích để lại. Ngách đông bãi thứ ba nước rút nhanh, nhưng vịnh lau sậy phía tây năm nay lại tích nước. Nếu sáu con tàu bụng nông đi theo hướng tây, tàu cũ đi theo tuyến cũ nhưng giảm tải trọng, hai đội hội quân tại cửa đ/á hạ nguồn, vừa có thể tránh được chỗ nông, vừa không làm chậm thời hạn vận chuyển lương thực vụ thu.
"Em đã tính toán từ trước rồi sao?" Minh Anh hỏi.
"Vừa mới nhìn ra thôi."
Khóe miệng chị khẽ động, không giống đang cười, mà giống như đang nuốt ngược câu "cũng tạm được" vào trong.
Quá trưa, các thuyền công đến báo cáo giờ công. Bác Thích gọi từng người vào, tôi mới phát hiện sổ lương cũng đã được mẹ sửa đổi. Phía sau tên mỗi thuyền công có thêm một cột "hiểu nước", không ghi tiền tháng, mà ghi xem ai thông thạo đoạn sông nào, ai nhìn thấu được loại sắc trời nào. Những thứ này không được viết trong điều lệ cũ, nhưng lại giống quy tắc thực sự của bến thuyền hơn cả điều lệ.
Lương Ký Xuyên đến đúng lúc tôi vẽ hỏng tờ bản đồ thứ ba.
Anh ta làm ván tàu và bánh lái cho bến thuyền, hai năm qua cũng thường xuyên nhận việc ở thượng nguồn. Tôi từng chạm mặt anh ta vài lần bên ngoài, lần thân thiết nhất là năm ngoái khi mưa bão vây hãm tôi ở bến đò, anh ta nhường nửa cái lán gỗ cho tôi phơi bản đồ, còn bản thân thì dầm mưa suốt đêm.
Anh đặt cây thước đo mực nước mới vót xong lên cạnh bàn, không hỏi tại sao tôi lại về, chỉ liếc nhìn bàn đầy những đường kẻ mực.
"Em tính cả vịnh lau sậy vào rồi à?"
"Ừ."
"Chỗ đó góc cua hẹp. Nếu tàu 'Trường Triều' chất đầy hàng, đuôi tàu sẽ quét vào bờ."
Tôi đưa bút cho anh: "Vẽ cho tôi xem."
Anh không nhận, chỉ dùng đ/ốt ngón tay gõ lên mặt bàn thành một đường cong. "Em là người vẽ bản đồ, tôi chỉ nói về tình hình con nước thôi."
Câu nói này khiến lòng tôi nhẹ nhõm hơn một chút. Chưa đầy nửa ngày kể từ khi về bến thuyền, tất cả mọi người đều đang thay tôi quyết định xem tôi có nên ở lại hay không, chỉ có anh vẫn coi tôi là người biết nói chuyện bằng bản đồ như ngày trước.
Chạng vạng tối, chúng tôi ra bến tàu đo đạc thực tế tàu "Trường Triều". Minh Anh đứng ở mũi tàu, nhìn tôi và Lương Ký Xuyên đo góc cua, bỗng nhiên hỏi: "Người ở thượng nguồn đều giúp em như vậy sao?"
Tôi nhận ra chút gai góc trong giọng điệu của chị. "Ít nhất họ sẽ không giấu giếm một chuyện suốt ba năm."
Sắc mặt chị lập tức trầm xuống.
Bác Thích hắng giọng, quay sang nhìn dây cáp. Lương Ký Xuyên cũng lui về phía đuôi tàu, không xen vào.
Minh Anh nhìn chằm chằm vào mặt sông hồi lâu mới nói: "Ba năm trước, em về nhà vẽ cho mẹ một tấm bản đồ vận tải mùa đông. Còn nhớ không?"
Đương nhiên tôi nhớ. Đó là lần đầu tiên tôi muốn chứng minh mình không phải là kẻ chỉ biết vẽ theo thầy. Tôi dùng lối rẽ mới đo được, nhưng bến thuyền lại không sử dụng. Mẹ thậm chí chẳng khen lấy một câu, tôi tức gi/ận nên năm sau liền đi đến nơi thượng nguồn xa hơn.
"Tấm bản đồ đó đã được dùng," Minh Anh nói.
Ngón tay tôi cứng đờ.
"Một con tàu bị mắc cạn ở bãi cát trắng, nứt mất một nửa bụng tàu. Không ch*t người, nhưng hỏng mất hai khoang hàng."
"Không thể nào," tôi gần như phản bác ngay lập tức, "Năm đó mực nước..."
"Em đã bỏ sót một đợt triều rút đêm."
Chị lấy từ trong tay áo ra một tờ giấy cũ đã gấp đến bạc màu. Chữ của tôi, đường kẻ của tôi, nhưng góc dưới bên phải lại đóng con dấu của Minh Anh.
"Mẹ muốn ghi trách nhiệm lên tên em," chị nói, "Là chị đã tự sửa lại thành mình phê duyệt."
Gió sông từ cửa khoang tàu ùa lên, tôi bỗng cảm thấy lạnh hơn cả trong linh đường.
"Tại sao?"
Minh Anh thu tờ bản đồ lại.
Tôi trải tờ bản đồ cũ lên mặt tàu, tính toán lại một lần nữa dọc theo các điểm đo năm đó. Sai là sai, không có nét vẽ nào vì ba năm trôi qua mà trở nên đúng được. Điều khiến tôi khó chịu nhất không phải là việc Minh Anh giấu tôi, mà là tôi chợt nhớ đến trước khi rời nhà năm đó, tôi từng nói với chị trên bàn ăn: "Chị muốn cả đời giữ tàu cho mẹ thì đó là việc của chị, đừng mang ra dạy bảo tôi." Khi đó chị chỉ đáp lại một câu "Chị không dạy em". Giờ nghĩ lại, có lẽ chị đã đóng con dấu đó thay cho tôi từ lâu rồi.
Trên đường về, tôi và chị đi trước sau. Khi bước qua cây cầu đ/á cũ, chị bỗng dừng lại, nhắc tôi ván gỗ bên phải bị lỏng. Tôi theo bản năng nói: "Tôi biết." Nói xong mới nhận ra, ba năm không gặp, chị vẫn nhớ thói quen đi bộ luôn dẫm vào cạnh cầu của tôi. Có những chuyện giữa chúng tôi đã đổ vỡ hoàn toàn, nhưng có những thói quen lại giống như những cọc gỗ cũ bên bờ sông, chẳng ai nhổ bỏ đi cả. Điều này càng khiến tôi khó lòng coi chị đơn thuần là người được mẹ thiên vị, là người ở lại nhà.
"Vì lúc đó em đã đi rồi," chị nói, "Chị đã nghĩ, ít nhất phải có một người có thể rời đi."