Mẹ viết gợi ý ở mặt sau bản đồ, không giống di ngôn, mà giống như một lời nhắc nhở đã sớm lường trước việc chúng tôi sẽ tranh cãi.
Tôi đưa bản đồ cho Minh Anh xem. Xem xong, chị không hề ngạc nhiên, chỉ lẳng lặng ngồi xuống bên cửa sổ.
"Chị từng thấy rồi sao?"
"Từng thấy dòng 'Hai dấu cất giữ riêng', nhưng không thấy nửa câu sau," chị nói, "Khi mẹ sửa bản đồ, bà không cho phép chị đụng vào bút mực chàm."
Tôi trải tất cả mười hai tấm bản đồ gần đây ra. Màu đỏ gạch là lộ trình thực tế tàu đã đi, còn màu chàm chỉ là những đoạn nhỏ, giống như con sông bị đ/ứt quãng. Nhìn riêng từng tấm thì không thấy trọn vẹn, nhưng khi chồng lên theo năm tháng, những đường màu chàm sẽ dịch chuyển dần, khớp hoàn hảo với các vết khắc mực nước dọc bờ sông.
Mẹ không phải đang vẽ đường, bà đang ghi chép "khi nào không thể tin vào con đường cũ được nữa".
Mà việc này, chỉ có tôi là hiểu được mực nước, còn Minh Anh là người hiểu được tình trạng tàu và giờ công.
Khi bác Thích được chúng tôi gọi đến, bác đứng ở cửa hồi lâu. Bác thừa nhận những vết khắc mực nước đó là do mẹ bảo bác để lại, mỗi tháng hai lần, gặp mưa lớn thì khắc thêm.
"Phu nhân nói, bản đồ là vật ch*t, còn nước là vật sống. Nhị cô nương ở bên ngoài ghi chép đại thế, Đại cô nương ở trong hành ghi chép tàu thuyền, người nếu chỉ tin vào một bên, sớm muộn gì cũng xảy ra chuyện."
Minh Anh hỏi nhỏ: "Tại sao mẹ không nói thẳng với chúng con?"
Bác Thích lắc đầu: "Phu nhân cũng có cái bướng của bà. Bà luôn cảm thấy đợi đến khi hai người chịu ngồi chung một bàn, mới coi là thực sự có thể quản lý bến thuyền."
Tôi nghe mà nổi gi/ận: "Người đã mất rồi, mới để chúng con tự đoán, đây gọi là sự sắp đặt gì chứ?"
Bác Thích không bênh vực mẹ, chỉ thở dài.
Lần đầu tiên, tôi cho phép bản thân được gi/ận bà. Những ngày qua, ai cũng như đang cố gắng bù đắp một ý tốt cho người đã khuất, như thể mẹ để lại mười hai con tàu là sự tính toán sâu xa, là vì tốt cho hai cô con gái. Nhưng rõ ràng bà cũng đã sai. Bà tách rời những điều chúng tôi cần biết, khiến Minh Anh tưởng rằng chỉ có thể ở lại, còn tôi thì tưởng rằng chỉ có rời đi mới được sống là chính mình.
Quá trưa, tôi và Minh Anh lần đầu tiên thực sự ngồi trước cùng một tấm bản đồ để sửa đường.
Chị báo độ mớn nước của từng con tàu, tôi dựa theo mực nước khác nhau để vẽ vùng khả thi; chị nói về thói quen của thuyền công, tôi đá/nh dấu hướng gió và chỗ quay đầu. Hai canh giờ sau, chúng tôi tạo ra một tấm bản đồ mới hai màu: màu chàm là thế nước, màu đỏ gạch là lộ trình kiểu tàu. Không ai có thể dùng đường của người kia một cách đơn đ/ộc.
Minh Anh nhìn hồi lâu rồi nói: "Nếu mẹ sớm nói với chúng ta như thế này, có lẽ..."
Chị không nói hết câu.
Tôi cũng không hỏi "có lẽ gì".
Chạng vạng, Ôn Kiểu Hòa đến. Bà là chủ hàng của vụ thu hoạch lần này, cũng là một nữ thương nhân hiếm hoi ở cảng sông tự mình quản lý kho. Sau khi xem bản đồ mới, bà chỉ hỏi một câu: "Ai chịu trách nhiệm phê duyệt cuối cùng?"
Tôi và Minh Anh đồng thời im lặng.
Theo điều lệ cũ, chỉ có "Gia chủ" mới được đóng dấu tổng của bến thuyền. Mẹ đã tách dấu tổng thành hai nửa, nhưng tông tộc lại không công nhận cách làm này.
Ôn Kiểu Hòa dùng móng tay gõ gõ vào góc bản đồ: "Tôi không quan tâm trong tộc các cô gọi là gì. Lương của tôi phải đến đúng hạn, người cũng phải sống sót mà về. Ai có thể chịu trách nhiệm cho con đường này, tôi sẽ ký với người đó."
Câu nói này thực tế hơn bất kỳ sự công nhận nào của các tộc lão.
Nhưng cũng vào buổi chiều đó, Giang Mậu Đình cho người gửi thông báo đến: Nếu chúng tôi không chấp nhận sự giám sát của tông tộc trong ba ngày tới, tộc sẽ thu hồi sáu con tàu đang đăng ký dưới tên công sản, kéo theo đó là ba khách hàng lớn vốn có.
Mười hai con tàu, sẽ chỉ còn lại sáu.
Minh Anh vò nát tờ thông báo: "Trong sáu con tàu này có bốn con là tiền của mẹ bỏ ra sửa."
"Tên nằm trong tay ai?"
"Trong tay tộc."
Chúng tôi đều biết tranh giành lại ít nhất cũng phải mất vài tháng. Vụ thu hoạch không đợi được.
Đêm đến, tôi đi tìm Lương Ký Xuyên. Anh đang ngồi xổm bên xưởng đóng tàu để vá bánh lái cho tàu "Bình Xuyên", tôi đưa tờ thông báo cho anh.
"Chỉ còn lại sáu chiếc, lương của nhà họ Ôn căn bản không tải hết nổi."
Anh đọc xong, hỏi: "Em muốn giữ mười hai con tàu, hay là giữ cho thuyền công lần này không bị gián đoạn công việc?"
Tôi không trả lời ngay.
Anh lại nói: "Đừng buộc mọi thứ thành một ván thắng. Nếu em nhất định phải đòi lại gia nghiệp, danh tiếng, khách hàng và mười hai con tàu cùng một lúc, cuối cùng có lẽ chẳng giữ được thứ gì cả."
Tôi biết anh nói đúng, nên càng cảm thấy khó chịu.
Khi chúng tôi mang bản đồ mới đi hỏi các thuyền công, không ai nói thẳng "đây là quy củ mới". Tôi hỏi từng người họ sợ đoạn sông nào nhất, Minh Anh thì hỏi kiểu tàu nào với tải trọng nào là khó chuyển hướng nhất. Có người bảo tôi vẽ quá bảo thủ, có người chê chị xếp lịch quá gấp. Chúng tôi tranh cãi trước mặt mọi người hai lần, cuối cùng sửa lại ba chỗ. Điều này hữu dụng hơn bất kỳ lời dặn nào mẹ để lại: Bản đồ có thể bị sửa, người quản lý cũng có thể bị chất vấn.
Sau khi tan họp, Minh Anh đột ngột hỏi tôi: "Có phải em thấy mẹ rất ích kỷ không?" Tay tôi vẫn cầm bút, hồi lâu sau mới nói: "Có một chút." Chị nhìn ra ngoài cửa sổ: "Chị cũng vậy." Đó là lần đầu tiên chúng tôi không cần phải giữ gìn mọi quyết định của mẹ như thể đang chịu tang bà. Nói xong, trong phòng không có trời sập, cũng chẳng có ai trở thành đứa con bất hiếu. Chỉ có gió đêm thổi rơi một tấm bản đồ phế thải trên góc bàn, chúng tôi cùng cúi xuống nhặt, trán suýt va vào nhau.
Mẹ để lại cho chúng tôi mười hai con tàu, nhưng bước đầu tiên để thực sự cùng nhau kế nghiệp, có lẽ là học cách thừa nhận rằng sẽ có sáu con tàu không thể giữ lại.