Cuộc họp tộc được tổ chức tại phòng nghị sự bên ngoài từ đường họ Giang.
Lúc tôi bước vào, hai bên có hơn mười tộc lão ngồi, Giang Mậu Đình ở chính giữa, trên án thư đặt bản điều lệ cũ. Phía sau ông ta còn đứng hai người phòng kế toán chuẩn bị tiếp nhận tờ khế ước tàu.
Tôi và Minh Anh không ngồi vào chỗ của tộc thân, mà đặt năm chồng tài liệu lên chiếc án dài ở chính giữa.
Chồng đầu tiên là tấm bản đồ sai ba năm trước.
Tôi tự mình nói: "Vụ mắc cạn ở Bạch Sa Tích, nguyên nhân là tôi đã bỏ sót đợt triều rút đêm. Tấm bản đồ này do tay tôi vẽ."
Trong phòng lập tức xôn xao.
Tôi không dừng lại.
Chồng thứ hai là con dấu mà Minh Anh đã đóng. Chị tiếp lời: "Sau vụ t/ai n/ạn, tôi đã sửa trách nhiệm phê duyệt ghi vào tên mình, không báo cáo theo sự thật."
Các tộc lão quả nhiên biến sắc.
Giang Mậu Đình lạnh lùng cười: "Bản thân các cô đã thừa nhận mất chức trách, còn bàn chuyện kế nghiệp gì nữa?"
"Cho nên chồng thứ ba mới cần bàn," tôi đẩy cuốn sổ tay của mẹ và sổ chu chuyển ra, "Vụ t/ai n/ạn cần đền bao nhiêu, tông tộc thực tế thu bao nhiêu, xin mời phòng kế toán tính toán tại chỗ."
Chúng tôi mời đến là một lão thầy kế toán trong thành không thuộc họ Giang. Ông kiểm tra từng mục, cuối cùng báo ra số chênh lệch.
Phòng nghị sự lần đầu tiên thực sự rối lo/ạn lên.
Giang Mậu Đình nói đó là phí quản lý và phí giữ tên tuổi nhiều năm. Tôi hỏi: "Điều lệ nào viết vậy?"
Ông ta không đưa ra được.
Chồng thứ tư là lời khai từ sổ lương và vạch mực nước. Bác Thích cùng ba thuyền công lần lượt giải thích, mẹ đã yêu cầu ghi chép mực nước mỗi tháng như thế nào, đã đưa kiểu tàu và thuyền công thông thạo đoạn sông vào điều động thực tế ra sao.
Chồng thứ năm là tấm bản đồ hàng hải hai màu và đơn hồi đáp đã đến nơi bình an của chuyến lương thực mùa thu đầu tiên.
Tôi đặt hai nửa con dấu lên bản đồ.
"Điều lệ cũ nói nữ tử chỉ có thể thay mặt quản lý, đó là do tổ tông đặt ra. Chúng tôi không phủ nhận nó tồn tại. Nhưng ba năm qua thứ thực sự giữ cho bến thuyền sống sót không phải 'ai là đàn ông', mà là ai biết rõ về tàu, ai biết rõ về nước, ai dám chịu trách nhiệm cho lỗi sai."
Một tộc lão gõ gậy: "Cháu đang muốn thay đổi tổ chế?"
"Cháu đang nói rằng nếu họ Giang muốn lấy đi sáu con tàu, thì cứ lấy. Nếu muốn lấy tên chúng tôi để thay chúng tôi quản lý, cũng được--với điều kiện chúng tôi sẽ không dùng bảo khế của tông tộc họ Giang nữa, không công nhận bản điều lệ thay mặt quản lý này nữa."
Minh Anh trải bản điều lệ mới đã chuẩn bị ra.
Không phải lập tôi, cũng không phải lập chị.
Bản điều lệ mới viết rất đơn giản: Lộ trình cần hai dấu cùng phê duyệt; chi tiêu lớn cần phòng kế toán và đại diện thợ thuyền cùng ký; gặp tình hình nước khẩn cấp, quản tàu có thể từ chối đi vào tuyến nguy hiểm; một trong hai chị em nếu rời bến quá ba tháng, người còn lại không được tự ý xử lý tài sản tàu; nếu hai người tranh cãi không quyết được, ghế thợ thuyền và chủ hàng bên ngoài làm chứng sẽ đình chỉ ra tàu tạm thời.
Có người m/ắng là hoang đường, nói làm gì có chuyện để thợ thuyền kìm hãm chủ phương.
Bác Thích đứng dậy: "Lúc tàu chìm, chủ phương ở trên bờ, thợ thuyền ở dưới nước. Để chúng tôi nói một câu không thể đi, không tính là kìm hãm."
Ôn Kiểu Hòa cũng đứng lên. "Tôi nguyện tiếp tục ký theo bản điều lệ này một năm."
Giang Mậu Đình cuối cùng không kìm nén nổi nữa. "Các cô tưởng rằng chỉ một nữ chủ hàng là có thể chống đỡ cả bến thuyền?"
"Không thể," tôi đáp, "Cho nên chúng tôi sẽ thu nhỏ lại."
Tôi đẩy giấy giao nhận sáu con tàu trở lại. "Sáu con tàu này từ hôm nay trở đi thuộc về tông tộc. Ba khách hàng vốn dựa vào bảo khế của tộc trước đây, chúng tôi cũng từ bỏ."
Vai Minh Anh cứng đờ, nhưng không rút tay lại.
Tôi biết đây là lúc cái giá phải trả thực sự đặt xuống.
Giang Mậu Đình có lẽ cứ tưởng chúng tôi chỉ dùng "mất sáu con tàu" ra đe dọa tộc, nào ngờ chúng tôi thả thật.
Nửa đội tàu, nửa nguồn khách, cùng danh tiếng không sai sót mà mẹ cố gắng giữ nhiều năm.
Tất cả đều được đặt lên chiếc án này.
Cuối cùng, tộc lão không công nhận bản điều lệ mới, cũng không sách phong bất kỳ ai trong chúng tôi làm "gia chủ". Họ chỉ tuyên bố tông tộc họ Giang sẽ không bảo lãnh cho chúng tôi nữa, và sẽ truy xét cuốn sổ chu chuyển của Giang Mậu Đình.
Cái này không thể gọi là một chiến thắng rực rỡ.
Khi bước ra khỏi phòng nghị sự, bên ngoài đã đổ mưa.
Minh Anh đứng dưới bậc thềm, bỗng hỏi tôi: "Chị hối h/ận khi quay về không?"
Tôi nhìn chị.
Ba năm trước, chị đã đóng giúp tôi một con dấu không nên đóng. Hôm nay, chúng tôi cùng nhau nói ra cái giá của con dấu đó.
"Hôm nay không hối h/ận," tôi nói.
Chị gật đầu. "Vậy thì tính hôm nay trước."
Lương Ký Xuyên đứng cầm ô ở phía xa, không bước tới đón tôi.
Lúc cuộc họp hỗn lo/ạn nhất, có tộc lão chất vấn rằng chúng tôi vừa thừa nhận mất chức trách, lấy gì mà bắt thuyền công phải nghe lệnh. Tôi không mang di ngôn của mẹ ra áp người, chỉ lần lượt đọc ra giờ hành trình thực tế, lượng giảm tải và đơn hồi đáp của chuyến lương thực đầu tiên. Bản đồ sai chứng minh tôi biết phạm lỗi, bản đồ mới chứng minh tôi có thể sửa sai; con dấu giả của Minh Anh chứng minh chị từng vượt quyền, còn sổ lương mấy năm qua lại chứng minh chị biết cách để tiền công không bị đ/ứt. Nếu việc kế nghiệp chỉ cho phép người chưa từng mắc lỗi, thì cả phòng nghị sự này e rằng không chọn ra được ai cả.
Tôi nói xong, chính mình cũng có thể nghe thấy tiếng tim đ/ập.
Giang Mậu Đình chất vấn rằng ghế thợ thuyền có bị chúng tôi m/ua chuộc không. Bác Thích đáp ngay tại chỗ: "Chủ phương nếu thiếu lương, tôi là người đầu tiên không đóng dấu." Mấy tộc nhân già bị tức đến phùi râu, tôi lại suýt bật cười. Khoảnh khắc đó, bản điều lệ mới lần đầu tiên không giống lý tưởng được tôi và Minh Anh viết trên giấy, mà giống thứ thực sự sẽ quay lại kìm hãm chúng tôi.
Khi bước ra khỏi từ đường trong mưa, tôi mới phát hiện Lương Ký Xuyên đã đứng rất xa từ đầu. Anh không hề tỏ ra thất vọng dù tôi công khai thừa nhận bản đồ sai. Điều này khiến tôi yên tâm hơn bất kỳ lời khen ngợi nào.
Trước khi bước về phía anh, tôi quay đầu lại chờ Minh Anh đi hết bậc thềm đ/á đó đã.