Sau khi đọc xong lời giải thích của cha, chú tôi im lặng một hồi lâu.
Đoàn tàu vẫn mắc kẹt trong hầm, thời gian dự kiến c/ứu hộ lại bị lùi thêm một tiếng. Nhân viên phục vụ phân phối lại số nước uống còn lại, nhắc nhở chúng tôi tiết kiệm pin điện thoại. Tôi đóng gói lại túi tài liệu của cha, những mảnh niêm phong bị rạ/ch tôi cất riêng vào túi vật chứng, tất cả các bản gốc đều để lại dưới chân tôi.
Dư Ninh hỏi tôi: “Chị định đưa cho mẹ chị xem sao?”
“Đợi sau khi ra ngoài.”
“Chị có thể không đưa.”
Tôi nhìn cô ấy. “Đó là chuyện bà ấy phải đối mặt.”
Cô ấy không khuyên nữa.
Người nhân viên phục vụ lớn tuổi ngồi đối diện chúng tôi, xem đi xem lại tấm vé t/ai n/ạn đó. Ông chợt nói, hai mươi bốn năm trước dù không ở trên chuyến tàu gặp nạn, nhưng ông đã từng tham gia công tác điều phối tạm thời trong những ngày sau đó.
“Tôi nhớ một bé gái.” Ông nói.
Tôi và Dư Ninh đồng loạt ngẩng đầu.
“Không thể dựa vào trí nhớ để nhận người.” Tôi nói trước.
“Tôi biết.” Ông gật đầu. “Tôi chỉ nói những gì tôi nhớ. Ngày thứ ba sau t/ai n/ạn, có một đứa trẻ được chuyển từ trạm y tế tạm thời Bắc Tú đến ga Nam cũ, trên tay không có thẻ tên hoàn chỉnh, chỉ buộc một mảnh giấy ghi “Lâm, Tiểu Ninh”. Con bé cứ ôm khư khư một chiếc nắp bình màu xanh lá.”
Nước mắt Dư Ninh trào ra.
Cô ấy dùng mu bàn tay lau đi, không phát ra tiếng.
Người nhân viên phục vụ kể tiếp, đứa trẻ đó sau đó được nhân viên an dưỡng địa phương đón đi, họ từng dán thông báo tìm thân nhân. Vài ngày sau có người đến hỏi, nhưng không hoàn tất thủ tục x/ác nhận thân phận.
“Ai đến hỏi?” Tôi hỏi.
“Tôi không nhớ mặt. Chỉ nhớ có hai người đàn ông.”
Chú đột nhiên đứng dậy.
Hành động này còn nhanh hơn bất kỳ câu trả lời nào.
Tôi nhìn chú. “Chú và cha?”
“Chú đã nói rồi, mọi chuyện rất hỗn lo/ạn.”
“Chú đã đến ga Nam cũ.”
Chú không phủ nhận.
Dư Ninh nhìn chằm chằm vào chú, giọng rất khẽ. “Chú đã nhìn thấy tôi sao?”
Chú mấp máy môi vài lần.
“Nhìn từ xa.”
“Tôi ở đó sao?”
“Cháu đi cùng nhân viên an dưỡng.”
“Tại sao chú không gọi tôi?”
Chú nhắm mắt lại. “Cha cháu bảo về bàn bạc trước.”
Dư Ninh không hỏi thêm.
Cô ấy quay mặt về phía cửa sổ đen kịt, vai cứng đờ. Lần đầu tiên tôi nảy sinh ý định muốn nói giúp cô ấy, nhưng cuối cùng lại nhịn. Câu hỏi này nên do cô ấy hỏi, và câu trả lời cũng nên thuộc về phía cô ấy.
Tôi chỉ ghi lại câu nói này của chú vào hồ sơ giấy, đá/nh dấu “Bản thân tự khai, chờ đối chiếu dữ liệu bên ngoài”.
Chú nhìn tôi viết, cười khổ một tiếng. “Cháu ghi cả cái này sao?”
“Các người hai mươi bốn năm trước chính là nhờ việc không để lại hồ sơ hoàn chỉnh mà biến một con người thành hư vô.”
Sắc mặt chú tái nhợt.
Đúng lúc này, đoàn tàu khôi phục kết nối dữ liệu ra bên ngoài trong chốc lát. Chỉ có thiết bị phục vụ mới có thể truyền văn bản tốc độ thấp, người nhân viên phục vụ báo cáo tình trạng hành khách lên trung tâm điều khiển trước. Tôi nhờ ông gửi thêm một yêu cầu bảo an: Hành khách toa 7 sở hữu tài liệu gốc liên quan đến vụ t/ai n/ạn Bắc Tú 73, từng xảy ra hành vi nghi vấn lấy đi vé cũ, sau khi tiếp cận c/ứu hộ vui lòng sắp xếp bên thứ ba tiếp nhận.
Chú lập tức nói: “Cháu cần thiết phải làm ầm ĩ đến công ty đường sắt sao?”
“Tài liệu t/ai n/ạn vốn dĩ liên quan đến đường sắt.”
“Đây là việc nhà.”
“Một phần là vậy. Còn hồ sơ thân phận của nạn nhân mất tích thì không.”
Sau khi tin nhắn được gửi đi, hệ thống hiển thị đã nhận.
Đó là hành động đầu tiên trong đêm nay của tôi không thể thu hồi.
Chú ngồi xuống, dùng tay che mặt.
Dư Ninh nhìn màn hình hiển thị gửi thành công, hỏi tôi: “Chị làm vậy, về sau sẽ rất phiền phức.”
“Tôi biết.”
“Mẹ chị có thể sẽ trách chị.”
“Bà ấy có quyền trách.”
Cô ấy im lặng một hồi. “Chị không sợ sao?”
Đương nhiên là tôi sợ.
Tôi sợ mẹ nói với tôi rằng bà đã biết từ lâu; cũng sợ bà nói bà không hề hay biết gì cả. Vế trước sẽ thay đổi sự tin tưởng của tôi dành cho bà, vế sau sẽ chứng minh rằng cha đến ch*t cũng không thực sự coi bà là người có thể cùng ông gánh vác mọi chuyện.
Tôi kể những điều này cho Dư Ninh nghe.
Cô ấy không an ủi tôi, chỉ nói: “Trước đây tôi rất ngưỡng m/ộ chị.”
“Tại sao?”
“Vì ít nhất chị đã lớn lên trong nhà của ông ấy.”
Tôi cúi đầu nhìn chiếc vali của cha.
“Còn bây giờ thì sao?”
“Bây giờ thì tôi không biết nữa.”
Câu trả lời đó khiến tôi thấy thoải mái hơn một chút.
Cả hai chúng tôi đều không có được một người cha đáng ngưỡng m/ộ.
Hơn hai giờ sáng, bên ngoài đoàn tàu cuối cùng cũng vang lên tiếng máy móc từ xa. Đội c/ứu hộ đang dọn dẹp lối đi phía sau, nhưng vẫn chưa thể vào toa tàu.
Chú đột nhiên lên tiếng: “Dĩ Đường, mấy năm cuối đời cha cháu rất hối h/ận.”
Tôi nhìn chú.
“Hối h/ận không đồng nghĩa với sửa sai.”
“Ông ấy muốn giải quyết.”
“Ông ấy niêm phong tài liệu vào trong vali, rồi để chúng ta tự mở sau khi ông ấy ch*t.”
Chú không nói đỡ cho cha nữa.
Tôi ép phẳng túi tài liệu lần nữa.
Bằng chứng cha để lại đang dần hoàn thiện.
Nhưng lý do im lặng của gia đình, cũng ngày càng khó giải thích bằng hai chữ “sợ mất mặt”.
Lần nào họ cũng nói hãy đợi thêm chút nữa.
Đợi đến cuối cùng, thời gian tự nó đã trở thành nơi ẩn náu thuận tiện nhất của họ.